1. Định giá hàng tồn kho (Inventory valuation)

Định giá hàng tồn kho trong tiếng Anh là Inventory valuation. 

Định giá hàng tồn kho là việc xác định giá trị bằng tiền phù hợp cho dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm của doanh nghiệp. Khi lạm phát làm cho giá nhiều lô hàng dự trữ đã mua trong thời kì kinh doanh có giá trị khác nhau, doanh nghiệp phải quyết định xem:

- Lấy giá trị bằng tiền nào để tính cho khối lượng dự trữ cuối kì trong bảng tổng kết tài sản

- Lấy chi phí nào để tính cho các đơn vị hàng hóa đã tiêu thụ trong các tài khoản của công ty. Quyết định này có liên quan trực tiếp tới chi phí hàng hóa tiêu thụ và lãi gộp.

 

2. Định giá hàng tồn kho bao gồm những nội dung gì?

Các công thức định giá hàng tồn kho khác nhau được sử dụng để đánh giá dự trữ đem lại kết quả khác nhau của giá trị dự trữ trong bảng tổng kết tài sản và chi phí hàng hóa tiêu thụ.

- Phương pháp vào trước - ra trước (FIFO) - còn gọi là phương pháp nhập trước xuất trước giả định hàng hóa được rút ra khỏi dự trữ đúng theo thứ tự nhập hàng, cho nên chi phí hàng hóa tiêu thụ được tính dựa trên chi phí của những hàng hóa cũ nhất trong dự trữ còn giá trị dự trữ cuối kì được tính dựa trên giá của những lần mua hàng gần nhất.

- Ngược lại, phương pháp vào sau - ra trước (LIFO) - còn gọi là phương pháp nhập sau xuất trước giả định rằng những hàng hóa được mua sau cùng được rút ra khỏi dự trữ trước, cho nên chi phí của hàng hóa tiêu thụ được tính dựa trên chi phí của những lần mua hàng gần nhất, còn giá trị tồn kho cuối kì được tính dựa trên những hàng hóa cũ nhất còn nằm trong kho.

- Phương pháp vào sau - ra trước (phương pháp nhập sau xuất trước) đem lại kết quả cao hơn khi tính chi phí cho hàng hóa tiêu thụ, đại lượng này gần đúng hơn với chi phí thay thế của hàng hóa tiêu thụ, nhưng có xu thế đánh giá thấp giá trị của dự trữ cuối kỳ.

- Vì mục đích thận trọng, các doanh nghiệp có xu hướng đánh giá dự trữ theo chi phí hay giá trị thị trường, tức sử dụng giá thấp hơn để tránh thổi phồng lợi nhuận.

 

3. Các phương pháp xác định giá thành hàng tồn kho

Mỗi một doanh nghiệp tùy vào đặc thù sản xuất kinh doanh của mình mà áp dụng phương pháp tính giá trị tồn kho, có thể lựa chọn các phương pháp tính giá sao cho thuận lợi trong quá trình tính toán nhưng phải sử dụng đúng nguyên tắc nhất quán trong hạch toán.

Hiện nay, theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC thì có 03 phương pháp tính giá trị hàng tồn kho phổ biến, đó là:

- Phương pháp giá đích danh

- Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hoặc cuối kỳ

- Phương pháp nhập trước, xuất trước

Doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá trị hàng tồn kho nào thì phải đảm bảo tính nhất quán trong cả niên độ kế toán.

 

3.1. Phương pháp giá đích danh

Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hoá mua vào, từng thứ sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. Theo phương pháp này sản phẩm, vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính.

- Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra: Giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.

- Nhược điểm: Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này: Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này.

 

3.2. Phương pháp bình quân gia quyền

Đây là phương pháp hay được các doanh nghiệp sử dụng. Theo phương pháp này thì giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô hàng nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.

Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ

Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít doanh điểm nhưng số lần nhập, xuất mặt hàng lại nhiều, căn cứ vào giá thực tế, tồn đầu kỳ để kế toán xác định giá bình quân của một đơn vị sản phẩm, hàng hoá.

Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:

- Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

- Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.

Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm, tức thời)

Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức sau:

- Ưu điểm: Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật được thường xuyên liên tục.

- Nhược điểm: Phương pháp này làm tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần. Do vậy, phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.

 

3.3. Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất trước thì được xuất trước, và giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ.

Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm. Thường áp dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh về thuốc, mỹ phẩm…

- Ưu điểm: Có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn.

- Nhược điểm: Làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có được từ cách đó rất lâu. Đồng thời nếu số lượng, chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.

Mỗi phương pháp tính giá trị hàng tồn kho đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Mức độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ, năng lực nghiệp vụ và trình độ trang bị công cụ tính toán, phương tiện xử lý thông tin của doanh nghiệp. Đồng thời cũng tuỳ thuộc vào yêu cầu bảo quản, tính phức tạp về chủng loại, quy cách và sự biến động của vật tư, hàng hóa ở doanh nghiệp.

 

4. Kiểm kê hàng tồn kho sử dụng phương pháp nào?

Hiện nay có hai phương thức kiểm kê hàng tồn kho được sử dụng phổ biến bao gồm:

- Phương pháp kê khai thường xuyên (perpetual inventory method) là phương pháp theo dõi một cách thường xuyên tình hình biến động tăng giảm hàng tồn kho trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho ngay khi nghiệp vụ này phát sinh. Ưu điểm của phương pháp này là có độ chính xác cao, các thông tin về hàng tồn kho luôn được cập nhật kịp thời. Nó cho phép tại bất kỳ thời điểm nào cũng có thể xác định được lượng nhập, xuất, tồn kho từng loại hàng. Nhưng cũng vì thế mà nó khá tốn thời gian và công sức để có thể kiểm kê một cách chính xác.

- Phương pháp kiểm kê định kỳ (periodic inventory method) là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hoá, sản phẩm mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ. Các tài khoản hàng tồn kho chỉ theo dõi giá trị hàng tồn kho tồn đầu kỳ và cuối kỳ. Phương pháp này có ưu điểm là giảm được khối lượng công việc ghi chép tuy nhiên độ chính xác không cao.

 

5. Một số thuật ngữ khác liên quan đến hàng tồn kho

5.1 Tài trợ cho hàng tồn kho là gì?

Tài trợ cho hàng tồn kho (INVENTORY FINANCING) là khoản vay vốn lưu động để cung cấp tài chính mua hàng tốn kho để bán lại. Khi hàng tồn kho được bán thì khoản vay này sẽ được thanh toán dần. Tài trợ cho hàng tồn kho bao gồm tài trợ mặt bằng kho và tài trợ kho hàng. Các khoản vay được bảo lãnh bằng khoản phải thu có quyền yêu cầu tiền vay nợ cơ bản cao hơn hàng tồn kho, bởi vì khoản phải thu gần với tiền mặt hơn và xứng đáng tạm ứng tín dụng cao hơn.

 

5.2 Dỡ hàng, lưu kho và giao hàng là gì?

Dỡ hàng, lưu kho và giao hàng (L.s. & d.) là từ viết tắt của “landing, storage and delivery” (dỡ hàng, lưu kho và giao hàng).

 

5.3 Không gian hàng hoá (commodity space) là gì?

Không gian hàng hoá (commodity space) là phần không gian giới hạn bởi các trục tọa độ biểu thị lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể mua. Trong không gian hai chiều, không gian hàng hoá là phần tư giới hạn bởi các trục biểu thị lượng của hai hàng hoá. Các điểm trong phần tư này biểu thị những kết hợp khác nhau của hai hàng hoá mà người tiêu dùng có thể lựa chọn.

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.