Trả lời:

1. Quy định về chủ doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ. 

Khoản 2 Điều 185 Luật doanh nghiệp 2014 trước đây (thay thế bởi: Luật doanh nghiệp năm 2020 hiện nay) có quy định:

"2. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp"

Trường hợp này, bạn là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, bạn hoàn toàn có quyền thuê một người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý rằng, mặc dù bạn thuê người khác làm Giám đốc điều hành doanh nghiệp tuy nhiên bạn vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
 

2. Những điều cần lưu ý thuê giám đốc

Chủ doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn có quyền thuê người khác làm giám đốc công ty dưới hình thức là ủy quyền cho người này thực hiện chức năng, nhiệm vụ, công việc nhất định. Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và Giám đốc được thuê được xác định là quan hệ ủy quyền và chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp năm 2020 số 59/2020/QH14. Theo đó, Giám đốc được thuê thực hiện công việc trái với nội dung đã được ủy quyền sẽ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra.

 

3. Doanh nghiệp tư nhân là gì?

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là loại hình doanh nghiệp một chủ. Doanh nghiệp tư nhân do một chủ thể đứng ra thành lập. Chủ thể này dùng tài sản của mình đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không có sự liên kết và chia sẻ với bất cứ ai khác.Trong doanh nghiệp tư nhân không có sự hùn vốn, không có sự liên kết của nhiều thành viên. Là người duy nhất đầu tư vốn thành lập nên chủ doanh nghiệp tư nhân cũng là người duy nhất có quyền định đoạt các vấn đề tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Cần phân biệt tính tổ chức liên kết hợp tác dưới giác độ chủ sở hữu với tính tổ chức trong nội bộ doanh nghiệp. Dù một chủ, doanh nghiệp tư nhân vẫn là đơn vị kinh doanh mang tính chất một tổ chức, trong đó có người quản lý điều hành, có người lao động làm công, v.v.. Chính vì vậy doanh nghiệp tư nhân vẫn thỏa mãn dấu hiệu cơ bản đầu tiên của một doanh nghiệp nói chung: bản thân Doanh nghiệp tư nhân là “một tổ chức kinh tế”.

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ. Do đó, Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Những quyền hạn này của Chủ doanh nghiệp tư nhân được pháp luật thừa nhận và quy định tại Điều 143 Luật doanh nghiệp năm 2020 số 59/2020/QH14, Điều 185 Luật doanh nghiệp 2014 và hiện nay là Điều 190 Luật doanh nghiệp 2020.

Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình (Điều 191 Luật doanh nghiệp 2020). Trong thời hạn cho thuê, Chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác (Điều 192 Luật doanh nghiệp 2020). Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác.  

Có thể nói, mối quan hệ giữa Chủ doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp là mối quan hệ gắn kết không tách rời. Doanh nghiệp tư nhân chỉ có duy nhất một cá nhân cụ thể là chủ sở hữu. Nếu có sự thay đổi từ cá nhân này sang cá nhân khác thì Doanh nghiệp tư nhân đó về bản chất phải chấm dứt sự tồn tại. Như trong trường hợp bán Doanh nghiệp tư nhân, người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại. Nếu có sự thay đổi về số lượng chủ sở hữu thì Doanh nghiệp tư nhân đó cũng phải chấm dứt sự tồn tại.

Cá nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân mà chết, mất tích hoặc rơi vào các trường hợp bị cấm thành lập quản lý doanh nghiệp (không còn chủ sở hữu đủ điều kiện) thì Doanh nghiệp tư nhân phải giải thể doanh nghiệp. Trường hợp Chủ doanh nghiệp tư nhân chết, người thừa kế (nếu có) chỉ được hưởng thừa kế về tài sản chứ không được thừa kế tư cách chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân. Nếu chỉ có một người thừa kế và người này muốn tiếp tục duy trì khai thác khối tài sản trong doanh nghiệp bằng hoạt động kinh doanh dưới hình thức Doanh nghiệp tư nhân thì phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh lại.

Nếu số lượng chủ sở hữu tăng lên hơn một, thì phải làm thủ tục chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân sang hình thức Công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh . Khi Doanh nghiệp tư nhân chưa chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý thì Chủ doanh nghiệp không thể đăng ký làm chủ một Doanh nghiệp tư nhân khác.  

Doanh nghiệp tư nhân có các đặc điểm sau:

  • Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ sở hữu. Đây là đặc điểm để dễ phân biệt doanh nghiệp tư nhân với các loại hình doanh nghiệp nhiều chủ khác.
  • Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Do doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập nên không đủ điều kiện để được công nhận là pháp nhân.
  • Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn đầu tư đã đăng ký; mà còn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình không đầu tư vào doanh nghiệp trong trường hợp số vốn đầu tư đã đăng ký không đủ để thanh toán các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
  • Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào ra thị trường.

 

4. Giám đốc doanh nghiệp tư nhân 

Vấn đề quản lý doanh nghiệp tư nhân được Luật doanh nghiệp 2014 ghi nhận tại Điều 185 như sau:

1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

2. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp.

3. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Căn cứ vào quy định này, Chủ doanh nghiệp tư nhân là người có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề của doanh nghiệp. Giám đốc (được thuê) chỉ quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh trong phạm vi được chủ doanh nghiệp tư nhân giao hoặc được chủ doanh nghiệp tư nhân ủy quyền.

Theo quy định tại Điều 190 Luật Doanh nghiệp 2020 thì:

Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân.

Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp này thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên, việc tự làm chủ; tự thành lập doanh nghiệp tư nhân; và vận hành đôi khi sẽ có những khó khăn về rùi ro nhất định. Lúc này, chủ doanh nghiệp tư nhân được quyền thuê giám đốc về thực hiện việc kinh doanh của mình.

 

5. Giám đốc được thuê làm trái ý chủ doanh nghiệp tư nhân có bị phạt không?

Quan hệ giữa bạn là chủ doanh nghiệp tư nhân và Giám đốc được thuê được xác định là quan hệ ủy quyền và chịu sự điều chỉnh của Bộ Luật doanh nghiệp năm 2020 số 59/2020/QH14.

Căn cứ vào Điều 584 Luật doanh nghiệp năm 2020 số 59/2020/QH14 quy định về nghĩa vụ của bên được uỷ quyền như sau:

Bên được uỷ quyền có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó;

2. Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền;

3. Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc uỷ quyền;

4. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền;

5. Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;

6. Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.

Giám đốc được thuê là người được bạn ủy quyền sẽ phải thực hiện nghĩa vụ theo luật định và theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền. Nếu người giám đốc đó tự ý làm trái ý của bạn thì sẽ phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.

Tham khảo bài viết liên quan: Mẫu hợp đồng thuê giám đốc, tổng giám đốc điều hành mới nhất

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.