1. Hành vi vi phạm bản quyền tác phẩm được xác định như nào?

Khi một tác phẩm được tạo ra, quyền sở hữu sẽ tự động thuộc về tác giả. Tác giả sẽ là người được độc quyền tác phẩm. Không ai được tự ý sao chép, trích dẫn, biểu diễn công khai, … tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và các loại tác phẩm khác được bảo hộ quyền tác giả.

Quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 được xác định bao gồm: quyền nhân thân và quyền tác giả.

- Quyền nhân thân được xác định là: quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố công khai; quyền được công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm; quyền bảo vệ tác phẩm, ngăn chặn hành vi xuyên tạc, cắt ghép tác phẩm gây ảnh hưởng tới uy tín của tác giả.

- Quyền tài sản bao gồm: quyền được làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm công khai, sao chép tác phẩm, tuyên truyền tác phẩm đến công chúng bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau, được phép cho thuê bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 105/2006/NĐ-CP thì các hành vi sau đây bị xem xét là hành vi vi phạm bản quyền gồm:

- Tạo ra bản sao tác phẩm một cách trái phép;

- Tạo ra tác phẩm phái sinh trái phép;

- Tác phẩm giả mạo tên tác giả, chữ ký của tác giả với mục đích chiếm đoạt quyền tác giả;

- Tác phẩm bị cắt ghép, sao chép, lắp ghép trái phép;

- Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo vệ quyền tác giả bị vô hiệu trái phép.

Bên cạnh quyền tác giả thì quyền liên quan cũng có thể xem xét bị xâm phạm nếu bản định hình đầu tiên của buổi diễn bị tạo ra trái phép; bản sao bản định hình buổi biểu diễn, bản sao bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng bị sao chép, cắt ghép trái phép một phần hoặc toàn bộ; bản định hình cuộc biểu diễn cũng bị gỡ hoặc bị thay đổi một cách trái phép thông tin về quản lý quyền liên quan. Việc xác định yếu tố xâm phạm bản quyền tác giả dựa vào phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Cụ thể là hình thức thể hiện bản gốc, xác định theo nhân vật, hình tượng, cách thể hiện tính cách nhân vật, hình tượng của tác phẩm gốc trong trường hợp xác định yếu tố xâm phạm đối với tác phẩm phái sinh.

Hành vi vi phạm bản quyền là hành vi sao chép mà chưa có sự đồng ý của tác giả. Hành vi vi phạm các quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà gây phương hại đến quyền tác giả. Hành vi sao chép, mô phỏng lại các thương hiệu (Trademark) hay các biểu hiệu (logo) của một tổ chức, cho đến việc sao chép các chi tiết có tính hệ thống mà phải qua một trình tự thời gian dài mới chứng minh được.

Trên thực tế, hành vi vi phạm về bản quyền sẽ có những hành vi rất dễ phát hiện nhưng cũng có những trường hợp rất khó phân định và nhiều lúc phải tốn nhiều thời gian cũng như tài lực để chứng minh trước Tòa án rằng có hay không có sự vi phạm về bản quyền.

 

2. Đọc sách tải lên YouTube có vi phạm bản quyền tác phẩm hay không?

Căn cứ Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009, 2019 thì các quyền tài sản thuộc quyền tác giả sẽ bao gồm các quyền sau đây:

- Làm tác phẩm phái sinh;

- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

- Sao chép tác phẩm;

- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Các quyền tài sản nêu trên phải do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật này và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm thì tổ chức, cá nhân đó phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Theo đó, sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản của tổ chức, cá nhân là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Từ đó đặt ra vấn đề là khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Đồng thời, theo khoản 2 Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan thì quyền sao chép tác phẩm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử.

Như vậy, từ những căn cứ nêu trên, ta có thể thấy việc một cá nhân ghi âm nội dung sách rồi đăng trên YouTube phải thực hiện xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho tác giả. Nếu không xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao thì hành vi tự ý đăng tải bản ghi âm nội dung sách lên mạng xã hội sẽ được coi là hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

3. Biện pháp xử lý đối với hành vi đọc sách tải lên YouTube không xin phép tác giả

Trong trường hợp không được sự chấp thuận của tác giả mà tổ chức, cá nhân này vẫn đăng tải bản ghi âm đọc lại nội dung sách và đăng tải lên YouTube thì người này bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 03 năm 2017 của Chính phủ).

Cụ thể, đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả thì người thực hiện hành vi này sẽ bị áp dụng biện pháp xử phạt hành chính là phạt tiền với mức từ 15 triệu đồng đến 35 triệu đồng. Ngoài ra, người thực hiện hành vi vi phạm này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là: Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

Tuy nhiên, trên đây là khung phạt tiền đối với cá nhân, vậy nên đối với cùng một hành vi vi phạm thì khung phạt tiền đối với tổ chức sẽ gấp 02 lần khung phạt tiền đối với cá nhân theo khoản 3 Điều 2 Nghị định 131/2013/NĐ-CP (bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả).

Ngoài ra, tác giả còn có thể yêu cầu người xâm phạm bồi thường thiệt hại cho mình trên cơ sở thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần. Và mức bồi thường thiệt hại đối với hành vi vi phạm bản quyền có thể xác định trên những căn cứ sau:

- Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất.

- Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện.

- Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định nêu trên thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định sẽ tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá 500 triệu đồng.

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.