1. Theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Bệnh nghề nghiệp là loại bệnh xuất phát từ các điều kiện lao động gây hại trong môi trường làm việc ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Được hiểu đơn giản bệnh nghề nghiệp là các bệnh phát sinh do việc thực hiện công việc trong môi trường lao động có yếu tố độc hại.
Theo đó, bệnh nghề nghiệp là những bệnh lý phát sinh do điều kiện lao động có hại cả nghề nghiệp tác động đến sức khỏe của người lao động. Có thể thấy, bệnh nghề nghiệp không phải là loại bệnh lý thông thường mang tính bẩm sinh hoặc phát sinh từ môi trường sống ngoài xã hội mà phải xuất phát từ yếu tố độc, hại của nghề nghiệp. Bệnh nghề nghiệp có thể ra cấp tính hoặc từ từ. Một số bệnh nghề nghiệp thậm chí còn không chữa khỏi và để lại di chứng sau này. Tuy nhiên, bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được nhờ việc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp định kỳ hàng năm.
Theo quy định của pháp luật tại Điều 6 Thông tư 28 năm 2016 Thông tư của Bộ Y tế quy định về những đối tượng cần phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp bao gồm:
- Người lao động đang tiếp xúc với các yếu tố gây hại có thể dẫn đến mắc bệnh nghề nghiệp hoặc đang làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt là những công việc có mức độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao.
- Người đang học nghề hoặc thực tập nghề
- Người lao động đã nghỉ hưu hoặc đã được chuyển công tác ra khỏi các ngành nghề hoặc công việc có nguy cơ cao về bệnh nghề nghiệp
- Người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội và đang trong thời gian bảo lưu đóng bảo hiểm xã hội hoặc đã nghỉ việc và đang chờ xử lý các quy định về hưu trí hoặc trợ cấp hàng tháng.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 58 năm 2014 Quốc hội 13 quy định về người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc phải thực hiện các cuộc khám sức khỏe định kỳ trong đó bao gồm cả việc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
2. Một số trường hợp cụ thể cần khám phát hiện bệnh nghề nghiệp:
Người lao động tham gia vào một loạt các ngành nghề đa dạng bao gồm khai thác khoáng sản, chế biến hóa chất, dệt may, sản xuất da giày, công nghiệp kim loại, xây dựng và giao thông vận tải. Ngoài ra, họ cũng tham gia vào các lĩnh vực dịch vụ khác. TRong quá trình làm việc thì họ tiếp xúc với nhiều yếu tố có hại như bụi, khí độc, tiếng ồn, rung động, tia X, chất hóa học và yếu tố sinh học.
Do ảnh hưởng của những yếu tố này thì người lao động có thể phát hiện dấu hiệu đầu tiên của bệnh nghề nghiệp. Những dấu hiệu này có thể bao gồm mệt mỏi kéo dài, giảm khả năng lao động, đau nhức cơ thể, rối loạn chức năng hô hấp, rối loạn tiêu hóa và rối loạn thần kinh.
Theo quy định của pháp luật tại Khoản 2 Điều 7 của Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 quy định về phía doanh nghiệp sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm tổ chức khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Việc này tuân thủ theo quy định tại Điều 7 Thông tư 28 năm 2016 Thông tư của Bộ Y tế cụ thể như sau:
- Thời điểm tiến hành khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động sẽ tuân thủ theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Luật An toàn vệ sinh lao động.
- Đối với các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh nghề nghiệp cấp tính hoặc do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người lao động thời điểm tiến hành khám phát hiện bệnh nghề nghiệp sẽ tuân thủ theo đề xuất của tổ chức hoặc cá nhân yêu cầu.
Như vậy, mỗi năm người sử dụng lao động đều phải tổ chức khám phát hiện bệnh nghề nghiệp định kỳ cho người lao động có tiếp xúc với các yếu tố có hại hoặc làm công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Cụ thể:
- Người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành viên, người lao động cao tuổi được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp ít nhất 06 tháng/ lần.
- Người lao động khác: Được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp ít nhất 01 năm/ lần.
- Trường hợp nghi ngờ mắc bệnh nghề nghiệp cấp tính hoặc do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người lao động: Được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp theo số lần yêu cầu.
Nguyên tắc chẩn đoán, điều trị, dự phòng đối với người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp:
Sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp thì người lao động cần được thực hiện các biện pháp sau:
- Hạn chế tiếp xúc với các yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp đó.
- Tuân theo phác đồ điều trị của Bộ Y tế. Trong trường hợp bệnh nhiễm độc nghề nghiệp việc thải độc và giải độc cần được thực hiện kịp thời và chính xác.
- Hướng dẫn điều dưỡng, phục hồi chức năng và đánh giá mức độ suy giảm khả năng lao động để đảm bảo hưởng chế độ bảo hiểm theo quy định.
Một số bệnh nghề nghiệp như bệnh điếc do tiếng ồn, bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ hoặc rung toàn thân, nhiễm độc mangan, các bệnh bụi phổi nghề nghiệp (trừ bệnh bụi phổi do bông) cùng với ung thư nghề nghiệp và ung thư do các bệnh nghề nghiệp không thể điều trị ổn định cần phải được chuyển khám giám định ngay.
Trong trường hợp chẩn đoán bệnh nhiễm độc nghề nghiệp cho người lao động việc thực hiện các xét nghiệm để xác định độc chất trong cơ thể không nhất thiết phải được thực hiện trong thời gian bảo đảm.
Hồ sơ cần chuẩn bị để khám phát hiện bệnh nghề nghiệp bao gồm những giấy tờ sau:
- Phiếu khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc.
- Sổ khám sức khỏe phát hiện bệnh nghề nghiệp.
- Bản sao kết quả thực hiện quan trắc môi trường lao động (đối với trường hợp người lao động tiếp xúc với yếu tố vi sinh vật trong môi trường lao động)
- Biên bản xác nhận tiếp xúc với yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp cấp tính (đối với trường hợp bị bệnh nghề nghiệp cấp tính mà tại thời điểm xảy ra bệnh nghề nghiệp cấp tính chưa kịp xác định được mức tiếp xúc yếu tố có hại)
- Bản sao hợp lệ giấy ra viện hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án bệnh có liên quan đến bệnh nghề nghiệp (nếu có).
3. Lợi ích của việc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp:
Để đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động việc phát hiện các bệnh nghề nghiệp trong giai đoạn sớm là điều cực kỳ quan trọng. Bằng cách này thì chúng ta có thể áp dụng biện pháp điều trị kịp thời, ngăn chặn sự phát triển của các biến chứng nguy hiểm.
Ngoài ra, việc theo dõi sức khỏe định kỳ cũng giúp người lao động tự bảo vệ sức khỏe của mình. Bằng cách này thì họ có thể nhận biết sớm các dấu hiệu bất thường và tìm kiếm sự chăm sóc y tế cần thiết.
Hơn nữa, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nghề nghiệp là một phần quan trọng của quá trình này. Ngoài ra, người sử dụng lao động còn được giảm các chi phí y tế và các chi phí bồi thường cho người lao động; Sàng lọc được người lao động có đủ điều kiện sức khỏe và không đủ điều kiện sức khỏe cho công việc của doanh nghiệp; Qua những sự sàng lọc nhất định về sức khỏe người lao động sẽ có lợi ích sâu xa là nâng cao được năng suất, chất lượng lao động cũng như hạn chế những rủi ro về tai nạn lao động. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp thông tin và đào tạo về cách giảm thiểu rủi ro và áp dụng các biện pháp an toàn trong môi trường làm việc. Những biện pháp này không chỉ bảo vệ sức khỏe của người lao động mà còn giảm thiểu nguy cơ phát triển các bệnh nghề nghiệp đáng lo ngại.
Bạn đọc có thể tham khảo bài viết sau: Mẫu giấy quyết định bồi thường bệnh nghề nghiệp
Bài viết trên luật Minh Khuê sẽ gửi tới bạn đọc chi tiết về vấn đề: Đối tượng nào cần khám phát hiện bệnh nghề nghiệp theo quy định? Bạn đọc có bất kỳ thắc mắc về vấn đề pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 19006126 hoặc thông qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn cụ thể.