1. Đa dạng phương thức nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Hiện nay thì Luật Doanh nghiệp 2020 có hiệu lực và các thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại pháp luật doanh nghiệp ngày càng đơn giản hơn so với những quy định của Luật Doanh nghiệp 2014. Theo đó thì việc đơn giản hóa được thực hiện thông qua nhiều cách thức khác nhau. Quy định về phương thức nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thì Điều 26 Luật Doanh nghiệp 2020 có quy định rằng người thành lập doanh nghiệp hoặc là người mà được ủy quyền thực hiện đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh theo 03 phương thức như là:

- Đăng ký doanh nghiệp trực tiếp tại Cơ quan đăng ký kinh doanh

- Đăng ký doanh nghiệp qua dịch vụ bưu chính

- Đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử. Việc thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử chính là việc mà người thành lập doanh nghiệp sẽ nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử tại Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. 

Theo như quy định trước đây của Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 78/2015/N Đ-CP thì khi thực hiện đăng ký doanh nghiệp thì người thành lập doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ theo một trong hai phương thức là nộp trực tiếp và nộp qua mạng thông tin điện tử. Trên thực tế, tại nhiều địa phương, một số cơ quan đăng ký kinh doanh cũng đã thực hiện việc trả kết quả qua bưu điện.

Như vậy thì hiện nay Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm hình thức nộp qua dịch vụ bưu chính. Việc ghi nhận đa dạng các phương thức nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là sự tiến bộ đáng ghi nhận, là tiền đề thực hiện cải cách thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp khi Luật Doanh nghiệp 2020 chính thức có hiệu lực, hướng đến sự thuận lợi về khởi sự kinh doanh cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.

2. Bãi bỏ thủ tục thông báo mẫu dấu của doanh nghiệp

Hiện nay thì khi mà cá nhân, tổ chức đăng ký thành lập doanh nghiệp thì thường thắc mắc về việc con dấu của doanh nghiệp khi thành lập. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 thì đã có những quy định rất là khác so với Luật doanh nghiệp 2014 về con dấu của doanh nghiệp. Cụ thể thì các bạn có thể theo dõi nội dung sau:

Cụ thể, khoản 2 và khoản 3 Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định doanh nghiệp quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp. Ngoài ra thì theo quy định của luật doanh nghiệp thì việc quản lý và lưu giữ dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có dấu ban hành. Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của pháp luật. Luật Doanh nghiệp 2020 cũng không còn quy định nội dung bắt buộc phải thể hiện trên con dấu của doanh nghiệp.

Đối chiếu so với những quy định pháp luật trước đây thì Luật doanh nghiệp 2020 đã có những quy định cải cách đáng kể về con dấu của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp 2014 đã có sửa đổi, bổ sung đáng kể về con dấu của doanh nghiệp so với trước đây, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật vẫn quy định nội dung bắt buộc phải thể hiện trên con dấu gồm tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp 2014 còn quy định trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Luật Doanh nghiệp 2020 còn bổ sung doanh nghiệp có thể có “dấu dưới hình thức chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử” bên cạnh “dấu được làm tại cơ sở khắc dấu”. Việc bổ sung này mặc dù mới so với Luật Doanh nghiệp 2014 nhưng không hẳn là nét mới mang tính đột phá bởi lẽ chữ ký điện tử vốn đã được doanh nghiệp sử dụng trên thực tế từ rất lâu; Luật Giao dịch điện tử được ban hành từ năm 2015 đã có quy định về chữ ký điện tử. Do đó, Luật Doanh nghiệp 2020 ghi nhận “dấu dưới hình thức chữ ký số” là một bước ghi nhận cho phù hợp với tình hình thực tế và xu thế cách mạng công nghiệp hiện nay mà thôi.

Như vậy thì chúng ta có thể nhận thấy rằng theo quy định của pháp Luật doanh nghiệp 2020 đã có những sửa đổi và bổ sung đáng kể về quy định về con dấu của Doanh nghiệp so với trước đây. Đây chính là một trong những yếu tố liên quan đến yếu tố đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp. 

3. Quy định thêm một số đối tượng không được thành lập và quản lý doanh nghiệp

Theo quy định tại Khoản 2 của Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 thì đã quy định rất cụ thể và rõ ràng về những tổ chức cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 thì chúng ta nhận thấy rằng so với Luật Doanh nghiệp cũ 2014 thì Luật doanh nghiệp 2020 đã có những quy định thêm, bổ sung về những đối tượng mà không được thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định. 

Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 bổ sung các nhóm đối tượng sau đây không được thành lập và quản lý doanh nghiệp: công nhân công an; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người đang bị tạm giam; tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Đầu tiên thì việc bổ sung các nhóm đối tượng trên vào nhóm không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp là nhằm là tương thích với những quy định của pháp luật khác liên quan như là Luật Phòng, chống tham nhũng (công nhân công an), Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Dù vậy, để xác định các nhóm đối tượng trên thì cần phải có căn cứ theo quy định của pháp luật, chẳng hạn như người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải có quyết định tuyên bố của Tòa án; pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh thì cũng phải thuộc trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội và có Bản án có hiệu lực của Tòa án.

Đối với quy định người đang bị tạm giam không được thành lập và đăng ký doanh nghiệp, mặc dù đây là quy định mới nhưng có vẻ như đã trùng lặp với nhóm đối tượng “đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự” được quy định trước đó. Bởi lẽ tạm giam là một biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự đối với người đang bị xem xét (truy cứu) trách nhiệm hình sự nên đã bị tạm giam thì đã đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự rồi. Do đó, bổ sung thêm nhóm đối tượng người đang bị tạm giam bên cạnh nhóm đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự là không thật sự cần thiết.

Tuy nhiên thì chúng ta có thể thấy rằng ở đây đang có một chút mâu thuẫn nhẹ. Đó là theo quy định của pháp luật thì một người luôn được xem là không có tội cho đến khi có kết luận bằng một bản án tòa án.  Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Vậy nên Luật Doanh nghiệp 2020 cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang bị tạm giam thành lập và quản lý doanh nghiệp thì có phù hợp với quyền công dân, quyền tự do kinh doanh mà Hiến pháp quy định hay không?

Như vậy thì Luật doanh nghiệp 2020 đã có những quy định giúp đơn giản hóa quy trình đăng ký thành lập doanh nghiệp hơn nữa, nó thể hiện ở việc là quy định bổ sung thêm các đối tượng không được thành lập quản lý doanh nghiệp, về con dấu của doanh nghiệp và bổ sung thêm các hình thức đăng ký thành lập doanh nghiệp. 

Tham khảo thêm Thành lập doanh nghiệp là gì? Quyền tự do thành lập doanh nghiệp hoặc là Quy định mới về hoạt động góp vốn theo Luật Doanh nghiệp 2020

Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc là lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ