Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012.

Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động

Nghị định 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

Nội dung tư vấn:

Chào Luật sư! Công ty em có chấm dứt HĐLĐ mà không báo trước cho NLĐ. Vậy công ty em phải đền bù cho NLĐ những khoản nào. Cụ thể như sau: Công ty em ký kết HĐLĐ chính thức với NLĐ từ ngày 10/7/2016 nhưng đến ngày 30/9/2016 sếp em yêu cầu chấm dứt HĐLĐ với NLĐ do không hoàn thành nhiệm vụ. (Ban đầu cty mời NLĐ về làm việc với vị trí Trưởng phòng HCNS nhưng trong quá trình làm việc NLĐ không thể hiện được tầm nhìn quản lý mà chỉ làm việc giống một nhân viên bình thường). Nhưng do công ty không báo trước 30 ngày nên NLĐ yêu cầu công ty bồi thường 1 tháng lương (15 triệu đồng) và trợ cấp mất việc (1/2 tháng lương), trợ cấp thôi việc (1/4 tháng lương) như vậy có đúng không? Vì em thấy trong luật LĐ ghi trường hợp NLĐ làm việc thường xuyên đủ 12 tháng trở lên mới được hưởng trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc, trong khi đó NLĐ công ty em mới làm tính cả thời gian thử việc là hơn 4 tháng. Kính mong luật sư tư vấn giúp em. Em cảm ơn!

Việc công ty chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phía công ty sẽ phải có những nghĩa vụ như sau:

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Đối với trợ cấp thôi việc: Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Theo đó, người lao động chỉ được chi trả tiền trợ cấp thôi việc khi bị chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp pháp luật quy định và có thời gian lam việc thường xuyên từ 12 tháng trở lên.

Đối với trợ cấp mất việc làm: Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. 

Theo đó, trường hợp này nếu NLĐ làm việc trong thời hạn 04 tháng thì không đủ điều kiện được hưởng 2 loại trợ cấp trên.

Có một nhân viên bảo vệ sinh ngày 25/6/1955 làm việc từ tháng 11/2013 đến nay. Tính tuổi lao động thì đã đủ tuổi nghĩ hưu nhưng Thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm. Vậy cho tôi hỏi trường hợp này khi chấm dứt hợp đồng lao động chuyển sang hưởng BHXH 1 lần đơn vị sử dụng lao động có phải trả trợ cấp thôi việc mỗi năm 1/2 tháng lương không? Xin trân trọng cảm ơn

Điều 48 BLLĐ 2012 có quy định về Trợ cấp thôi việc như sau Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. 

Theo đó, các trường hợp chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Khoản 1,2,3,5,7,9,10 Điều 36 bao gồm:

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Theo đó, nếu bạn chấm dứt HĐLĐ thuộc 1 trong các trường hợp trên thì sẽ được trợ cấp thôi việc.

Xin tư vấn giúp tôi: tôi ký hợp đồng lao động 2 năm, làm việc được 8 tháng tôi viết đơn xin thôi việc với lý do không thích ứng được với môi trường làm việc và sau đó 30 ngày tôi chính thức nghỉ. Trong quá trình làm việc công ty có trừ vào 10% lương hàng tháng của tôi (trong HĐ ghi là tiền cam kết đào tạo). Tính đến thời điểm nghỉ việc là 3.698.000đ. Ngoài ra tôi cũng không được đóng bất kỳ 1 khoản bảo hiểm nào. Vậy tôi phải làm gì để lấy lại khoản tiền 3.698.000đ này. Tôi xin chân thành cám ơn!!!!

Về việc cty bạn khấu trừ lương hàng tháng của bạn với lý do là tiền cam kết đào tạo. Theo quy định tại Điều 101 BLLĐ 2012 có quy định về khấu trừ lương:
1. Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 130 của Bộ luật này.

2. Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.

3. Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập
”.

Do đó, việc công ty quy định trong hợp đồng với bạn như vậy là trái pháp luật, bạn có thể yêu cầu Công đoàn cơ sở can thiệp hoặc có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về việc công ty không đóng bảo hiểm xã hội cho bạn thì công ty sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi này theo quy định tại Điều 26 Nghị định 88/2015/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Do đó, bạn có thể tố cáo hành vi này để cơ quan có thẩm quyền xủ lý.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

Xin chào luật sư ,tôi tên Nguyễn Văn So sinh 1966 hiên đang công tác trong nghành giáo dục từ năm 1985 cho đến nay.tôi muốn xin thôi việc thì sẽ được hưởng chế độ như thế nào? xin lĩnh chế độ BHXH một lần đươc không và cách tính BHXH?,Mông luật sư tư vấn cho tôi,xin trân trọng cảm ơn!

Căn cứ Khoản 1 Điều 38 Nghị định 29/2012/NĐ-CP về giải quyết thôi việc thì viên chức Viên chức được giải quyết thôi việc trong các trường hợp sau:

a) Viên chức có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

b) Viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 29 Luật Viên chức;

c) Đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức khi có một trong các trường hợp quy định tại Điểm c, Điểm d và Điểm đ Khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức.

2. Viên chức chưa được giải quyết thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Đang bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được cử đi đào tạo hoặc khi được xét tuyển;

c) Chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập;

d) Do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế.

Theo đó, nếu bạn thôi việc thuộc các trường hợp theo quy định tại Khoản 1 và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 như trên thì bạn sẽ được hưởng chế độ theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật viên chức 2010 là được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?

Đối với việc hưởng BHXH, căn cứ vào bạn cần xem xét điều kiện sauTrường hợp người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau một năm nghỉ việc, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội khi có yêu cầu thì được nhận bảo hiểm xã hội một lần. Theo đó, nếu thỏa mãn điều kiện này thì bạn sẽ được nhận bảo hiểm xã hội mộ lần theo quy định này.

xin chào luật sư Em có một người bạn tên A là giáo viên mầm non dạy hợp đồng dài hạn của phòng ngày Bạn A vào ngành là ngày 1/11/2013 công tác đến nay. nhưng vì lý do gia đình và con nhỏ hay đau yếu không có người chăm sóc nên bạn A xin thôi việc. Bạn A làm đơn thì Phòng Giao Dục có chấp nhận lý do của bạn A và đồng ý cho Bạn A nghĩ không à? Và nghĩ thì mức tiền BHTN sẽ được hưỡng như thế nào à? Lương mỗi tháng nhà nước trả cho bạn A là 3.700.000đ à. xin cảm ơn luật sư

Nếu chị A nghỉ việc thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 38 Nghị định 29/2012/NĐ-CP thì việc thôi việc của chị sẽ được chấp nhận và chị A sẽ được hưởng các quyền lợi được bao gồm hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Về mức hưởng BHTN thì nếu bạn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật thì bạn có thể tính được mức bảo hiểm thát nghiệp theo công thức sau:

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng= Mức lương bình quân của 06 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghieepjx 60%= 3 700 000 đồng x 60%= 2 220 000 đông

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật, về luật dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

 Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Điều kiện để được ly hôn đơn phương là gì ? Cách viết đơn ly hôn đơn phương

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?