Khách hàng: Kính thưa Luật sư minh Khuê , tôi có một số câu hỏi liên quan đến súc trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi súc vật gây thiệt hại, đó là: Hiện nay, có căn cứ pháp luật nào quy định về trường hợp trên không? Nếu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật khi súc vật gây thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như thế nào?

Cảm ơn!

1. Súc vật là gì?

Theo từ điển tiếng việt, Súc vật hay còn gọi là vật nuôi theo cách hiểu chung nhất là những loài động vật được nuôi trong nhà, chúng có thể được thuần hóa (hoàn toàn) hoặc bán thuần hóa (thuần hóa một phần) hoặc được thuần dưỡng, huấn luyện. Súc vật có thể bao gồm gia súc, gia cầm, thú cưng hoặc vật nuôi khác. Súc vật được nuôi và sử dụng trong nông nghiệp, công nghiệp, thể thao, giải trí, bầu bạn và các công việc khác. Dưới đây là danh sách liệt kê các loài động vật được nuôi trong nhà.

Súc vật được hiểu đó là “thú vật nhà”, hay “thú vật nuôi trong nhà”, “con vật nuôi trong nhà”. Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất thì “súc vật là những loại vật nuôi trong nhà”. Tuy nhiên, vật nuôi trong nhà có thể là thú hoặc chim, mà súc vật là động vật thuộc lớp thú, đó là “một loài động vật có 4 chân, có vú và sinh con”, khác với gia cầm là “giống vật có cánh nuôi trong nhà như gà, vịt, ngỗng”. Ngoài ra, súc vật còn được hiểu là “thú dữ được thuần hóa,...”.

Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2015 không đưa ra khái niệm súc vật, nhưng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về súc vật được đưa ra. Nhìn chung, các cách định nghĩa này đều khẳng định súc vật là loài thú đã được thuần dưỡng để nuôi ở trong nhà.

Vậy thú giữ và súc vật khác nhau hay giống nhau? Thú dữ có những đặc điểm khác biệt so với súc vật, trong đó đặc điểm đặc biệt quan trọng đó là con người chưa thể thuần dưỡng được thú dữ. Còn những loài thú mà có thể thuần dưỡng để nuôi trong nhà thì về bản chất đều “không dữ”. Do đó, ta chỉ nên coi súc vật là một loài thú (không dữ) chứ không nên coi chúng là thú dữ. Từ những phân tích này, có thể đưa ra khái niệm súc vật như sau:

Súc vật là những loài động vật đã được con người thuần dưỡng để trở thành những vật nuôi trong nhà, sống thân thiện với con người và môi trường xung quanh, con người có thể điều khiển được hoạt động của chúng để phục vụ cho các nhu cầu của mình.”

 

2. Cơ sở pháp lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra?

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được quy định cụ thể trong Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015.

"Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội."

Mặc dù súc vật và thú dữ đều là các loài động vật và đều có khả năng gây ra những thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh, dẫn đến việc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu hoặc các chủ thể khác. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do súc vật và thú dữ gây ra lại được quy định khác nhau. Điều này được giải thích bởi những đặc điểm khác biệt về bản năng tính loài giữa súc vật và thú dữ.

=> Sự tách biệt các trường hợp bồi thường thiệt hại do động vật gây trong Bộ luật Dân sự của Việt Nam đảm bảo việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường trong các trường họp khác nhau một cách chi tiết hơn. Tuy nhiên, việc tách biệt sẽ rơi vào việc liệt kê các trường hợp bồi thường thiệt hại do động vật gây ra, mà việc liệt kê sẽ không thể bao quát được tất cả các trường hợp động vật gây thiệt hại, dẫn đến việc khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại sẽ phải viện dẫn quy định tương tự pháp luật để giải quyết. Điều này dẫn đến nhiều trường hợp, cơ quan áp dụng đã viện dẫn quy định một cách không chính xác. Thực tế này cho thấy việc hoàn thiện cơ cấu các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra là một trong những yêu cầu mà cuốn sách này cần phải giải quyết.

 

3. Cơ sở pháp lý người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại khoản 3 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

"Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

...

3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trường họp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gãy thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trải pháp luật phải bồi thường thệt hại do súc vật đó gây ra. Đây không phải là quy định mới trong Bộ luật dân sự năm 2015, mà đó là sự kế thừa quy định trong Bộ luật dân sự trước đây. Theo đó, người nào chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật của người khác, mà súc vật gây ra thiệt hại cho người thứ ba, thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người thứ ba.

 

4. Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật

Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật - họ không phải là được chiếm hữu có căn cứ pháp luật theo một trong các trường hợp được quy định thuộc một trong các chủ thể có quyền sử dụng tài sản theo quy định của pháp luật.

Ngay khi họ thực hiện hành vi chiếm hữu, sử dụng súc vật của người khác thì đã bị coi là trái pháp luật, và đương nhiên trách nhiệm dân sự của họ đã phát sinh từ thời điểm thực hiện hành vi, kể cả súc vật chưa gây ra thiệt hại. Tuy nhiên, nếu súc vật chưa gây ra thiệt hại thì trách nhiệm của họ với chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không phải là trách nhiệm bồi thường, mà có thể là trách nhiệm hoàn trả súc vật và hoa lợi, lợi tức.

Trong trường hợp súc vật gây thiệt hại cho người thứ ba thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường thậm chí họ có thể quản lý chặt chẽ súc vật đó. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải là trách nhiệm với chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp súc vật mà với người bị thiệt hại. Hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, nhưng hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật có thể coi là đã tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để súc vật gây ra thiệt hại. Do đó, cơ sở chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật chính là hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật mà họ đã thực hiện.

 

5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật

Theo quy định tại khoản 3 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định rằng: "Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, về phương thức và mức bồi thường mà người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật phải gánh chịu được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 đã có sự bổ sung là hợp lý. Trong Bộ luật dan sự trước đây, trong trường hợp súc vật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật phải tự chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại. Tuy nhiên, khoản 3 Bộ luật dân sự năm 2015 lại quy định: “khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trải pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”. Như vậy, nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật không quản lý tốt súc vật, dẫn đến việc súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại thì họ phải liên đới bồi thường với NCH, sử dụng trái pháp luật súc vật. Mức bồi thường thiệt hại phụ thuộc vào mức độ lỗi của mỗi bên và sẽ căn cứ vào từng trường họp cụ thể. Quy định này là hợp lý bởi vì nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật mà quản lý tốt súc vật thì súc vật sẽ không bị người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, và sẽ không có thiệt hại xảy ra. Do đó, cả chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật đã cùng có lỗi trong việc tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho súc vật gây thiệt hại, nên họ cùng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại làhoàn toàn phù hợp. Ngoài ra, quy định này cũng đảm bảo cho trách nhiệm bồi thường được thực thi một cách nhanh chóng, kịp thời.

Một vấn đề khác cần lưu ý và cần đặt ra là trong trường hợp súc vật đang do một người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, đồng thời người này vẫn thực hiện việc quản lý súc vật một cách chặt chẽ. Tuy nhiên, người thứ ba lại có hành vi tác động làm cho súc vật gây thiệt hại thì ai phải bồi thường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này sẽ được giải quyết theo quy định tại khoản 2 hay khoản 3 điều luật?

Đây là vấn đề chưa được đề cập trong Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có thể trong trường hợp này nếu người thứ ba hoàn toàn có lỗi thì họ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, bởi vì thiệt hại xảy ra trong trường họp này là do hành vi có lỗi của người thứ ba đã tác động, kích động súc vật gây ra thiệt hại, chứ súc vật không tự nhiên gây ra thiệt hại. Mặc dù súc vật đang do người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, nhưng thiệt hại không phải do tự thân súc vật gây ra nên họ không phải bồi thường thiệt hại. Việc họ chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải chịu trách nhiệm với chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp chứ không chịu trách nhiệm với người bị thiệt hại. Tuy nhiên, nếu người thứ ba và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.

Trân trọng!