Mục lục bài viết

Nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm của công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Pháp luật Việt Nam có quy định những trường hợp được tạm hoãn hoặc miễn gọi nhập ngũ, nhưng không có cơ chế cho phép công dân nộp một khoản tiền để thay thế nghĩa vụ phục vụ tại ngũ.

Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa việc nộp tiền phạt do vi phạm quy định về nghĩa vụ quân sự và việc nộp tiền để được miễn thực hiện nghĩa vụ. Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Nộp phạt không đồng nghĩa với việc đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự hoặc được miễn gọi nhập ngũ. Trường hợp dùng tiền để tác động, mua chuộc người có trách nhiệm nhằm làm sai lệch kết quả tuyển quân còn có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng.

 

1. Quy định pháp luật về nghĩa vụ quân sự tại Việt Nam

1.1. Nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm của công dân

Điều 45 Hiến pháp năm 2013 quy định bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân; công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Cụ thể hóa quy định này, Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 xác định nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị.

Theo Điều 6 Luật Nghĩa vụ quân sự, trong thời bình, công dân nam trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ. Công dân nữ trong thời bình nếu tự nguyện và Quân đội có nhu cầu thì có thể được phục vụ tại ngũ.

Như vậy, nghĩa vụ quân sự không phải là một nghĩa vụ tài chính mà công dân có thể lựa chọn nộp tiền để thay thế. Đây là nghĩa vụ gắn với trách nhiệm của mỗi công dân theo quy định pháp luật.

 

1.2. Độ tuổi gọi nhập ngũ và thời hạn phục vụ tại ngũ

Theo Điều 30 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, độ tuổi gọi nhập ngũ thông thường là từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi. Đối với công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ, độ tuổi gọi nhập ngũ kéo dài đến hết 27 tuổi.

Công dân được gọi nhập ngũ phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo Điều 31 Luật Nghĩa vụ quân sự, bao gồm:
  • Có lý lịch rõ ràng.
  • Chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
  • Đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo quy định.
  • Có trình độ văn hóa phù hợp.

Về thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình, khoản 1 Điều 21 Luật Nghĩa vụ quân sự quy định thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng. Trong một số trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 06 tháng theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

 

1.3. Những hành vi bị nghiêm cấm khi thực hiện nghĩa vụ quân sự

Điều 10 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 nghiêm cấm các hành vi như:

  • Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự.
  • Chống đối, cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.
  • Gian dối trong khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự.
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về nghĩa vụ quân sự.
  • Sử dụng hạ sĩ quan, binh sĩ trái quy định pháp luật.

Đáng chú ý, việc dùng tiền để mua chuộc người có trách nhiệm, làm sai lệch kết quả khám sức khỏe hoặc can thiệp trái pháp luật vào quá trình tuyển quân có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy tính chất, mức độ vi phạm.

 

2. Đóng tiền để không đi nghĩa vụ quân sự có hợp pháp không?

2.1. Pháp luật không quy định cơ chế nộp tiền thay cho nghĩa vụ quân sự

Câu trả lời là không. Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có quy định cho phép công dân nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước để được miễn thực hiện nghĩa vụ quân sự thay cho việc phục vụ tại ngũ.

Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự quy định cụ thể các trường hợp được tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ. Trong các trường hợp này, pháp luật không quy định việc nộp tiền là một căn cứ để được miễn hoặc tạm hoãn.

Do đó, công dân không thể tự lựa chọn giữa hai phương án: một là đi nghĩa vụ quân sự, hai là nộp một khoản tiền để không phải nhập ngũ.

Việc có điều kiện kinh tế, có tài sản hoặc sẵn sàng nộp một khoản tiền lớn cũng không làm phát sinh quyền được miễn gọi nhập ngũ.

 

2.2. Phân biệt tiền phạt vi phạm hành chính và tiền nộp thay nghĩa vụ quân sự

Một trong những nguyên nhân gây nhầm lẫn là việc pháp luật có quy định xử phạt bằng tiền đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ quân sự.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ hai trường hợp:

Tiêu chí

Tiền phạt vi phạm hành chính

Tiền nộp thay nghĩa vụ quân sự

Cơ sở pháp lý

Có quy định trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Không có quy định cho phép

Bản chất

Chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm

Khoản tiền được cho là để thay thế việc nhập ngũ

Người nhận tiền

Nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền

Có thể là cá nhân trung gian hoặc người nhận tiền trái phép

Hệ quả

Người vi phạm vẫn có thể phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ quân sự

Không làm phát sinh quyền được miễn nhập ngũ

Ví dụ, một công dân không chấp hành quyết định gọi nhập ngũ có thể bị phạt tiền theo quy định. Tuy nhiên, việc nộp phạt không đồng nghĩa với việc công dân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự.

Đặc biệt, theo Điều 10 Nghị định 218/2025/NĐ-CP, hành vi gian dối nhằm trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và bị buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự.

 

2.3. Đưa tiền để làm sai lệch kết quả khám sức khỏe có thể bị xử lý

Trường hợp công dân hoặc gia đình đưa tiền cho cán bộ, nhân viên y tế hoặc người khác để làm sai lệch kết quả khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không phải là một hình thức xin miễn hợp pháp.

Theo khoản 5 Điều 9 Nghị định 218/2025/NĐ-CP, hành vi đưa hoặc nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhằm làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe để trốn tránh nghĩa vụ quân sự có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Mức phạt này cũng áp dụng đối với hành vi gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của chính người được khám.

Nếu hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người đưa tiền còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về Tội đưa hối lộ theo Điều 364 Bộ luật Hình sự. Người nhận tiền có thể bị xem xét trách nhiệm về Tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, việc đưa tiền để được xác nhận không đủ sức khỏe, được bỏ qua quy trình tuyển quân hoặc được bảo đảm không phải nhập ngũ có thể khiến người đưa tiền phải đối mặt với nhiều hậu quả pháp lý, thay vì đạt được mục đích như mong muốn.

 

3. Các trường hợp được miễn hoặc hoãn nghĩa vụ quân sự theo luật

Pháp luật quy định một số trường hợp được tạm hoãn hoặc miễn gọi nhập ngũ nhằm bảo đảm chính sách xã hội và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của công dân. Đây mới là những căn cứ hợp pháp để công dân được xem xét chưa phải thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ.

Căn cứ Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, các trường hợp được quy định như sau:

 

3.1. Các trường hợp được tạm hoãn gọi nhập ngũ

Công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ nếu thuộc một trong các trường hợp:

  • Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.
  • Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; hoặc gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm và được UBND cấp xã xác nhận.
  • Là một con của bệnh binh hoặc người nhiễm chất độc da cam bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.
  • Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ hoặc hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.
  • Thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
  • Là cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định.
  • Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học hoặc trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.
  • Là dân quân thường trực.

Công dân thuộc các trường hợp trên chỉ được tạm hoãn khi đáp ứng đúng điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Việc tự nhận thấy bản thân có hoàn cảnh khó khăn hoặc đang đi học không đồng nghĩa với việc đương nhiên được tạm hoãn.

 

3.2. Các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ

Theo khoản 2 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự, các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ gồm:

  • Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một.
  • Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ.
  • Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
  • Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân.
  • Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 24 tháng trở lên.

Cần lưu ý, miễn gọi nhập ngũ không có nghĩa là công dân được miễn mọi nghĩa vụ liên quan đến quốc phòng, an ninh hoặc không còn phải thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định pháp luật.

 

3.3. Phân biệt tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ

Tiêu chí

Tạm hoãn gọi nhập ngũ

Miễn gọi nhập ngũ

Bản chất

Chưa phải nhập ngũ trong một thời gian do có lý do luật định

Được miễn gọi nhập ngũ theo diện luật định

Căn cứ

Khoản 1 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự

Khoản 2 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự

Khi lý do không còn

Có thể được gọi nhập ngũ nếu vẫn trong độ tuổi

Không bị gọi nhập ngũ theo diện đã được miễn, trừ trường hợp tình nguyện và được xem xét tuyển chọn

Thủ tục

Cần cung cấp giấy tờ chứng minh căn cứ tạm hoãn

Cần cung cấp giấy tờ chứng minh thuộc diện miễn

Ngoài ra, cần phân biệt trường hợp không đủ sức khỏe với trường hợp được miễn gọi nhập ngũ. Công dân chưa đủ sức khỏe theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe thuộc diện tạm hoãn theo điểm a khoản 1 Điều 41, không phải mặc nhiên được miễn gọi nhập ngũ vĩnh viễn.

Việc miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự đối với một số đối tượng theo Điều 14 Luật Nghĩa vụ quân sự cũng là vấn đề khác với miễn gọi nhập ngũ theo Điều 41. Không nên căn cứ riêng vào tên bệnh hoặc tình trạng sức khỏe để kết luận một người được miễn nghĩa vụ quân sự nếu chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

 

4. Hệ quả pháp lý của hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự

Hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ ngày 05/08/2025, Nghị định 218/2025/NĐ-CP đã thay thế Nghị định 120/2013/NĐ-CP và Nghị định 37/2022/NĐ-CP trong việc quy định xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu. Vì vậy, khi xác định mức phạt hiện hành cần áp dụng Nghị định 218/2025/NĐ-CP, không tiếp tục sử dụng các mức phạt cũ trong hai nghị định trước đây.

 

4.1. Xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ quân sự

Nghị định 218/2025/NĐ-CP quy định các mức xử phạt đáng chú ý như sau:

Hành vi vi phạm

Mức phạt tiền đối với cá nhân

Căn cứ

Không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu đối với công dân nam đủ 17 tuổi trong năm thuộc diện phải đăng ký

Cảnh cáo

Điều 8

Không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu, không đăng ký bổ sung hoặc không thực hiện đăng ký theo quy định trong các trường hợp còn lại

8 - 10 triệu đồng

Điều 8

Không có mặt đúng thời gian, địa điểm sơ tuyển sức khỏe mà không có lý do chính đáng

3 - 5 triệu đồng

Điều 9

Không có mặt đúng thời gian, địa điểm khám sức khỏe mà không có lý do chính đáng

15 - 20 triệu đồng

Điều 9

Không nhận quyết định gọi khám sức khỏe mà không có lý do chính đáng

20 - 30 triệu đồng

Điều 9

Gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe hoặc đưa, nhận lợi ích vật chất dưới 2 triệu đồng để làm sai lệch kết quả

30 - 40 triệu đồng

Điều 9

Không chấp hành quyết định gọi kiểm tra, khám sức khỏe

50 - 75 triệu đồng

Điều 9

Không có mặt đúng thời gian, địa điểm tập trung ghi trong quyết định gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng

30 - 40 triệu đồng

Điều 10

Gian dối nhằm trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ sau khi đủ điều kiện sức khỏe

40 - 50 triệu đồng

Điều 10

Không chấp hành quyết định gọi nhập ngũ

50 - 75 triệu đồng

Điều 10

Các mức phạt trên được quy định tại Nghị định 218/2025/NĐ-CP. Việc áp dụng mức phạt cụ thể phải căn cứ vào hành vi thực tế, tình tiết vi phạm và quy định về xử lý vi phạm hành chính.

Đáng chú ý, theo khoản 4 Điều 10 Nghị định 218/2025/NĐ-CP, người có hành vi gian dối nhằm trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ sau khi đã có kết quả khám tuyển đủ điều kiện còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Như vậy, nộp tiền phạt không phải là cách để kết thúc nghĩa vụ quân sự. Người vi phạm vẫn có thể phải thực hiện nghĩa vụ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

 

4.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự

Trong trường hợp hành vi vi phạm đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung.

Theo khoản 1 Điều 332, người không chấp hành đúng quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ hoặc lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, có thể bị:

  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm; hoặc
  • Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Theo khoản 2 Điều 332, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

  • Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình.
  • Phạm tội trong thời chiến.
  • Lôi kéo người khác phạm tội.
Cần lưu ý, không phải mọi trường hợp vắng mặt hoặc vi phạm quy định về nghĩa vụ quân sự đều đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 332 Bộ luật Hình sự.

 

4.3. Trách nhiệm hình sự đối với hành vi đưa hối lộ, nhận hối lộ

Nếu công dân đưa tiền cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác nhằm tác động để người có trách nhiệm làm sai lệch kết quả khám sức khỏe, bỏ qua thủ tục tuyển quân hoặc thực hiện một hành vi trái pháp luật theo yêu cầu của người đưa tiền, hành vi đó có thể bị xem xét về Tội đưa hối lộ theo Điều 364 Bộ luật Hình sự.

Theo khoản 1 Điều 364, người trực tiếp hoặc thông qua trung gian đưa lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc lợi ích phi vật chất, nhằm mục đích tác động đến người có chức vụ, quyền hạn, có thể bị:

  • Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
  • Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Các khung hình phạt cao hơn được áp dụng nếu hành vi có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 364.

Đối với người nhận hối lộ, tùy hành vi và các tình tiết cụ thể, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự.

Cũng cần lưu ý rằng mốc 2.000.000 đồng không phải trong mọi trường hợp đều là ranh giới tuyệt đối để xác định có hay không có trách nhiệm hình sự. Điều 364 còn quy định trường hợp lợi ích phi vật chất và các trường hợp đặc biệt khác. Vì vậy, việc xác định tội phạm phải căn cứ đầy đủ vào quy định của Bộ luật Hình sự, không chỉ dựa trên số tiền đã giao.

 

5. Giải đáp quan điểm về việc nộp tiền thay cho nghĩa vụ quân sự

Trong thực tế, có nhiều ý kiến cho rằng nên cho phép công dân có điều kiện kinh tế nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước để không phải phục vụ tại ngũ. Một số người cũng cho rằng có thể đưa tiền cho người quen hoặc người trung gian để được bảo đảm không phải nhập ngũ.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa quan điểm đề xuất thay đổi chính sách và quy định pháp luật đang có hiệu lực. Hiện nay, không có cơ chế pháp lý cho phép công dân nộp tiền thay cho nghĩa vụ quân sự.

 

5.1. Quan điểm cho rằng có thể nộp tiền vào ngân sách để được miễn nhập ngũ

Đây là đề xuất về chính sách, không phải quyền mà công dân có thể thực hiện theo pháp luật hiện hành.

Điều 45 Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ quân sự của công dân. Luật Nghĩa vụ quân sự quy định cụ thể các trường hợp được tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ nhưng không thiết lập cơ chế quy đổi nghĩa vụ phục vụ tại ngũ thành một khoản tiền.

Vì vậy, dù một cá nhân có đề xuất hoặc mong muốn nộp tiền vào ngân sách, cơ quan nhà nước cũng không có căn cứ để tiếp nhận khoản tiền đó như một hình thức miễn nghĩa vụ quân sự.

 

5.2. Quan điểm cho rằng chỉ cần nộp phạt là không phải nhập ngũ

Quan điểm này không đúng với quy định pháp luật.

Tiền phạt vi phạm hành chính là hậu quả pháp lý đối với hành vi vi phạm. Khoản tiền này không có chức năng thay thế nghĩa vụ quân sự.

Ví dụ, nếu một công dân không chấp hành quyết định gọi nhập ngũ và bị xử phạt 50.000.000 đồng, việc nộp đủ số tiền phạt không có nghĩa là công dân đã hoàn thành nghĩa vụ. Người đó vẫn có thể bị buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định nếu thuộc trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc có quyết định hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền.

 

5.3. Quan điểm cho rằng có thể nhờ người trung gian để được miễn nghĩa vụ quân sự

Công dân cần đặc biệt cảnh giác với những lời giới thiệu như:

  • Có thể lo được kết quả khám sức khỏe không đủ điều kiện.
  • Có thể can thiệp để không có tên trong danh sách gọi nhập ngũ.
  • Có thể nộp một khoản tiền để được miễn nghĩa vụ quân sự.
  • Có người quen trong cơ quan quân sự hoặc cơ sở y tế có thể bảo đảm không phải nhập ngũ.

Những lời hứa này không tạo ra bất kỳ bảo đảm pháp lý nào. Người đưa tiền có nguy cơ mất tài sản, bị lừa đảo hoặc bị xem xét trách nhiệm pháp lý nếu hành vi đủ dấu hiệu vi phạm.

Nếu có người yêu cầu đưa tiền để giải quyết việc miễn hoặc hoãn nghĩa vụ quân sự trái quy định, công dân nên giữ lại tài liệu, chứng cứ liên quan và phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền thay vì tiếp tục giao dịch.

 

6. Lời khuyên pháp lý từ Luật Minh Khuê

Từ những quy định nêu trên, Luật Minh Khuê đưa ra một số khuyến nghị để công dân và gia đình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi thực hiện nghĩa vụ quân sự.

 

6.1. Chủ động xác định mình có thuộc diện được tạm hoãn hoặc miễn gọi nhập ngũ không

Nếu có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, vấn đề sức khỏe hoặc đang theo học chương trình đào tạo thuộc diện được tạm hoãn, công dân nên kiểm tra điều kiện tại Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự.

Trường hợp thuộc diện tạm hoãn hoặc miễn, cần chuẩn bị giấy tờ chứng minh tương ứng, chẳng hạn:

  • Giấy xác nhận của cơ sở giáo dục đối với trường hợp đang học phổ thông, đại học hoặc cao đẳng chính quy.
  • Hồ sơ bệnh án, kết luận của cơ sở y tế có thẩm quyền đối với trường hợp sức khỏe.
  • Giấy tờ chứng minh quan hệ gia đình, hoàn cảnh kinh tế và tình trạng của người được trực tiếp nuôi dưỡng đối với trường hợp là lao động duy nhất.
  • Giấy tờ chứng minh quan hệ với người có công với cách mạng đối với trường hợp thuộc diện miễn gọi nhập ngũ.

Công dân nên gửi giấy tờ đến cơ quan quân sự cấp xã nơi đăng ký nghĩa vụ quân sự để được hướng dẫn và xem xét theo quy định.

 

6.2. Không tự ý bỏ qua giấy gọi hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền

Khi nhận được quyết định gọi sơ tuyển, khám sức khỏe hoặc gọi nhập ngũ, công dân cần kiểm tra kỹ nội dung, thời gian và địa điểm phải có mặt.

Nếu có lý do chính đáng không thể tham gia đúng thời gian, địa điểm được yêu cầu, công dân cần thông báo và cung cấp tài liệu chứng minh cho cơ quan có thẩm quyền. Không nên tự ý vắng mặt hoặc nhờ người khác tìm cách can thiệp vào kết quả tuyển quân.

 

6.3. Không giao tiền cho người hứa hẹn lo miễn nghĩa vụ quân sự

Công dân và gia đình không nên tin tưởng những cá nhân tự nhận có khả năng giải quyết việc miễn, hoãn nghĩa vụ quân sự bằng tiền.

Nếu đã chuyển tiền cho người trung gian, cần lưu giữ chứng từ giao dịch, tin nhắn, nội dung trao đổi và các tài liệu liên quan. Trường hợp có dấu hiệu bị lừa đảo, cưỡng ép hoặc bị yêu cầu đưa hối lộ, nên phản ánh đến cơ quan công an hoặc cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết.

 

6.4. Tìm hiểu đầy đủ quyền lợi khi thực hiện nghĩa vụ quân sự

Bên cạnh trách nhiệm phục vụ tại ngũ, pháp luật cũng quy định nhiều chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ và gia đình.

Điều 50 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định các chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ và thân nhân, bao gồm những quyền lợi về phụ cấp, nghỉ phép, bảo hiểm y tế và một số chế độ hỗ trợ khác theo điều kiện luật định.

Đối với người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, pháp luật còn có chính sách trợ cấp xuất ngũ, hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm và các quyền lợi liên quan. Công dân nên tìm hiểu những chính sách này để nắm rõ quyền lợi của mình trong thời gian phục vụ và sau khi xuất ngũ.

Kết luận: Pháp luật Việt Nam hiện hành không cho phép công dân đóng tiền để thay thế nghĩa vụ quân sự. Công dân chỉ được tạm hoãn hoặc miễn gọi nhập ngũ khi thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự và đáp ứng đầy đủ điều kiện tương ứng. Việc đưa tiền để tác động đến kết quả tuyển quân hoặc nộp phạt do vi phạm không làm chấm dứt nghĩa vụ quân sự, đồng thời có thể dẫn đến trách nhiệm hành chính hoặc hình sự. Do đó, công dân cần tìm hiểu đúng quy định, thực hiện thủ tục hợp pháp và không tin vào các lời hứa hẹn có thể dùng tiền để giải quyết nghĩa vụ quân sự.

Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm: