Đóng vai Giôn-xi kể lại chuyện Chiếc lá cuối cùng - Mẫu 1
Tôi sắp chết rồi!
Nhìn chính mình đi, Giôn-xi! Gương mặt tái nhợt, bờ môi nứt nẻ và đôi mắt có quần thâm đậm cùng cơ thể gầy gò, đây là dáng vẻ của một con ma ốm. Tôi bắt đầu bị sưng phổi vào đầu mùa đông năm nay. Cái lạnh quái ác của mùa đông Oa-sinh-tơn khiến bệnh của tôi mãi không khỏi, mà tiền trong túi thì cứ cạn dần. Bệnh tật và ngèo túng khiến tôi chẳng còn thiết sống nữa. Sinh mạng tôi bây giờ gắn liền với chiếc lá thường xuân nhỏ bé ngoài kia. Than ôi, căn bệnh viêm phổi nan y cùng tình cảnh túng quẫn của tôi hiện giờ có khác gì những chiếc lá thường xuân yếu đuối, bám vào bờ tường với cái cuống mỏng manh trước cơn gió táp? Tự tôi cũng biết mình chẳng còn chút hi vọng nào.
Trông kìa, hai con người mà tôi hằng yêu quý, Xiu và cụ Bơ-men đã đến rồi. Tôi chẳng hề muốn phải lìa xa họ, nhưng sinh mệnh tôi đến đây phải tận. Tôi ngồi lắng nghe lời khuyên của hai người họ một cách vô hồn, vì dù ngôn ngữ có thuyết phục đến đâu, thì vẻ lo lắng đan xen chút tuyệt vọng nơi đáy mắt họ đã nói lên tất cả. Làm gì có ai hiểu mình hơn chính mình được nữa. Tôi đã cảm thấy cái chết ở kề cận bên mình rồi.
Tôi thở dài, nhờ chị Xiu mở cửa. Đúng như dự đoán, những dây thường xuân mơn mởn ngày nào giờ đây chỉ còn lại vài chiếc lá trơ trụi, tưởng như chỉ một cơn gió nữa thôi, tất cả đều sẽ rơi xuống. Trong ánh mắt ngán ngẩm đầy chua xót của hai con người đáng mến, tôi lạnh lùng tuyên bố: “Chỉ đêm nay nữa thôi. Sáng mai chắc hẳn chiếc lá cuối cùng đã lìa cành và cùng lúc đó, em cũng sẽ nhắm mắt buông xuôi lìa đời."
Những lá chiếc lá thường xuân rụng dần, rụng dần và chỉ còn lại một chiếc. Ý nghĩ về cái chết luôn thường trực trong tôi. Vào một buổi tối nọ, ngoài trời mưa to và gió rít từng cơn, trong lòng tôi thầm nghĩ có lẽ chiếc lá ấy sẽ không thể trụ được qua hết cái đêm mưa gió bão bùng này. Sáng hôm sau, tôi yêu cầu chị Xiu kéo tấm mành lên nhưng thật bất ngờ, chiếc lá vẫn còn đó, nó vẫn còn cố gắng bám víu lấy sự sống mong manh của mình. Nhưng tôi vẫn không thể gạt bỏ suy nghĩ rằng nó sẽ rụng và tôi sẽ chết, nếu có thêm một cơn bão ghé qua thì chắc chắn rằng chiếc lá cuối cùng này cũng sẽ rụng bởi nó không còn một chút sức sống nào nữa rồi và tôi cũng vậy thôi, cũng sắp không thể chống chọi được với căn bệnh hiểm nghèo này nữa.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy thấy chị Xiu vẫn ngủ gục trên bàn: tối qua có lẽ chị đã thức khuya lắm để chăm tôi. Tôi chăm chú nhìn gương mặt hốc hác, xanh xao của chị mà thấy thương chị vô cùng. Bất giác, tôi xót xa mong chờ giây phút chiếc lá cuối cùng rời cành để khỏi làm phiền những người xung quanh. Chị Xiu thức dậy, lại gần hỏi xem tôi có cần gì không. Tôi không nhìn Xiu, lạnh lùng bảo chị kéo tấm rèm lên. Xiu uể oải, chán chường và lo lắng căng thẳng miễn cưỡng kéo tấm rèm lên. Ô kìa! Ngoài kia một chiếc lá thường xuân vẫn còn đó! Chiếc lá kiên trung bám vào thân cây bò trên tường. Chiếc lá còn xanh, chỉ rìa lá thì đã ngả vàng. Trận mưa giông dữ dội đêm qua không làm chiếc lá mất đi thì tại sao tôi lại vội rời bỏ cuộc sống tươi đẹp? Rời bỏ ước mơ trở thành họa sĩ? Rời bỏ Xiu yêu quý của tôi? Không, chẳng có lý do nào để tôi rời bỏ cuộc đời tươi đẹp này. Tôi vẫn còn bao dự định dang dở, bao cảnh vật muốn vẽ lên trang giấy. Tự nhiên tôi thấy trong người mình bùng lên một dòng sinh khí bùng lên, bấu xíu vào từng ngóc ngách cơ thể như những dây thường xuân.
“Em thật là một con bé hư, chị Xiu thân yêu ơi”, Tôi gọi chị Xiu và nói, “Có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ thì chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và - khoan - đưa cho em chiếc gương tay trước đã, rồi xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng”.
Chị Xiu mỉm cười, sự vui mừng được thể hiện rõ qua ánh mắt của chị. Trong tôi lại dâng trào một sức sống mãnh liệt mà bấy lâu nay tôi đã đánh mất. Trước đây, mỗi lần chị Xiu nấu cháo cho tôi, tôi chỉ muốn ăn vài muỗng để có cái bỏ bụng nhưng hôm nay, tôi lại muốn ăn, muốn tìm lại những ước mơ ngày còn khoẻ. Tôi xin chị tí cháo pha ít rượu vang đỏ và tôi đã nhờ chị xếp mấy cái gối lại quanh tôi để tôi có thể ngồi dậy bởi tôi muốn quan sát cách chị Xiu các bữa ăn chứa đầy yêu thương cho tôi. Thấy cách chị chăm chú nấu ăn, tôi càng thương chị hơn, mặc dù chị chỉ là người bạn cùng phòng với tôi nhưng chị Xiu luôn ở bên tôi, chăm sóc tận tình cho tôi trong lúc tôi bệnh tật, bi quan như một người chị ruột trong gia đình. Nhìn chị, tôi nhận ra muốn chết mà một tội ác, ác với mình và ác cả với những người xung quanh. Giờ đây khát khao lớn nhất của tôi là được sống, khỏi bệnh rồi tôi sẽ đi khắp nơi để vẽ lại cảnh sắc tươi đẹp của cuộc đời này. Tôi nói với chị Xiu rằng: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”. Rồi tôi sẽ khỏi bệnh, sẽ vẽ được vịnh Na-plơ thôi, tôi tin là như thế.
Thế rồi, dưới sự chăm sóc của chị Xiu và khát khao được sống, chỉ vài ngày sau tôi đã ngồi dậy được. Hôm ấy, khi chị Xiu ra ngoài cùng bác sĩ, tôi với lấy cuộn len xanh thẫm, bắt tay vào đan một chiếc khăn quàng cổ. Tôi muốn cảm ơn chị Xiu vì đã chăm sóc tôi biết bao ngày qua. Đợi xong chiếc khăn này, tôi sẽ đan một đôi găng tay tặng cụ Bơ-men nữa, cụ đã động viên tôi nhiều từ ngày tôi bị bệnh. Chẳng biết mấy hôm nay cụ đi đâu, biết tôi khỏe lại chắc là cụ vui lắm.
Thế rồi Xiu trở lại vào phòng. Trông chị xúc động tột cùng, chị nghẹn ngào nói với tôi: "“Chị có chuyện này muốn nói với em, con chuột bạch của chị. Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi. Cụ ốm chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, và vài chiếc bút lông rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và - em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, - cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”.
Tôi nghe chị nói mà như sét đánh bên tai. Chiếc khăn mới đan trên tay tôi rơi xuống. Ra là thế, đó là lý do chiếc lá thường xuân kia kiên cường không bao giờ rụng, dù gió bão dữ dội ra sao. Thì ra không phải cuộc đời hậu đãi tôi, mà chính cụ Bơ-men đã tạo ra phép màu cho tôi. Cụ chết đi để tôi được sống. Bất giác tôi òa khóc nức nở.
Cụ Bơ-men ơi! Con sẽ sống! Con sẽ sống thay cả phần cụ nữa. Con sẽ thay cụ vẽ lên trang giấy những cảnh sắc của cuộc đời này. Xin cụ hãy yên nghỉ cùng kiệt tác của đời mình, cụ nhé.
Đóng vai Giôn-xi kể lại chuyện Chiếc lá cuối cùng - Mẫu 2
Lại một mùa đông nữa về trên thành phố Oa-sinh-tơn. Trái với vẻ hoa lệ của thành phố tuyết rơi trong mắt bao người, mùa đông đến là ác mộng của những kẻ nghèo hèn. Bệnh tật hoành hành khắp nơi và tôi - Giôn-xi không may là một nạn nhân của nó. Bệnh tật hành hạ cùng với cái nghèo đói bám riết khiến tôi dần tuyệt vọng. Tôi bắt đầu chuẩn bị tư tưởng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của đời người - chuyến đi về vùng đất chết.
Tôi và Xiu, người bạn đồng nghiệp, thuê trọ trên một căn gác ở gần công viên Oa-sinh-tơn. Ở tầng dưới là cụ Bơ-men, một họa sĩ già với ước mơ cao cả là vẽ nên một kiệt tác. Cụ thường làm mẫu cho chúng tôi vẽ tranh và rất thân thiết với hai chị em chúng tôi. Từ ngày tôi bị bệnh, Xiu và cụ Bơ-men lo lắng cho tôi đủ đường và khuyên nhủ mong tôi vững tâm chữa bệnh. Nhưng than ôi, hai người chẳng hiểu được đâu! Lúc này tôi thấy tâm hồn mình thật cô đơn, mọi sợi dây ràng buộc với bạn bè với cuộc sống cứ nới rộng dần từng sợi một. Tôi thở dài nói với hai người rằng: "Khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống cũng là lúc em lìa đời."
Chị Xiu vẫn kiên trì an ủi và chăm sóc tôi. Nhưng chị ơi, chẳng ích gì nữa đâu! Ngày mai, khi chị kéo tấm rèm lên, sẽ thấy lá cây thường xuân đã rụng hết, và em sẽ chết thôi.
Trời vừa hửng sáng tôi đã thều thào nhờ chị Xiu kéo tấm mành mành lên. Ôi kìa! Vẫn còn một chiếc lá duy nhất đơn độc dũng cảm treo bám vào tường. Cuống lá xanh sẫm nhưng hình như rìa răng cưa đã úa vàng, chắc chắn nó sẽ rụng nhanh thôi.
Vậy mà cả ngày hôm ấy tôi vẫn nhìn thấy nó. Cả đêm mưa gió vẫn tiếp tục ào ào. Trời vừa sáng tôi lại yêu cầu Xiu kéo tấm mành mành lên. Lạ chưa, chiếc lá vẫn còn ở đó. Tại sao nó không rụng nhỉ? Sức mạnh nào đã giúp nó vượt lên trên sự khắc nghiệt của thời tiết, phải chăng đó là sự gan góc dũng cảm bền bỉ? Còn tôi thì sao? Tôi đã buông xuôi chán nản tuyệt vọng đầu hàng số phận. Tại sao chiếc lá có thể còn tôi không thể tồn tại? Tôi thấy mình thật yếu đuối vô dụng, phải lấy lại niềm tin nghị lực sống! Nhất định phải thế!
Tôi trông thấy chị Xiu đang lúi húi nấu cháo, chị đã chăm sóc tôi rất tận tình. Vậy mà đôi mắt bi quan của tôi lại không chịu thấy, chỉ một mực hướng về cái chết. Thật là ngu xuẩn làm sao! Sau đó tôi xin chị Xiu ít cháo và chút sữa pha với vang đỏ. Chị quay lại nhìn tôi một cách ngạc nhiên rồi nhanh chóng nở một nụ cười. Có lẽ chị hiểu suy nghĩ của tôi lúc này. Chị lấy thức ăn cho tôi, nhìn tôi với niềm vui sâu kín. Tôi nói với chị: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”. Trong tôi lúc đó tràn ngập niềm tin và hi vọng. Chị Xiu gật đầu và mỉm cười với tôi như sự đồng tình. Tôi sẽ sống thôi, chỉ cần tôi có niềm tin và cứ lạc quan như bây giờ.
Thế rồi, như một phép màu, bệnh của tôi dần khỏi. Khi bác sĩ đến khám lại, tôi gần như đã khỏi bệnh, vượt qua cơn nguy hiểm. Nhưng đó cũng là lúc chị Xiu kể cho tôi nghe sự thật về chiếc là cuối cùng - chiếc lá là hy vọng để tôi bấu víu vào suốt những ngày bệnh tật: "Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi. Cụ ốm chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, và vài chiếc bút lông rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và - em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, - cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”.
Giờ đây, tôi đã là một hoạ sĩ có tên tuổi. Dưới mỗi bức vẽ của mình tôi đều ký tên Bơ-men. Hàng năm, vào ngày giỗ của cụ, tôi vẫn trở về khu nhà trọ xưa viếng mộ cụ. Kỉ niệm về cụ và chiếc lá cuối cùng tôi vẫn còn lưu giữ trọn vẹn trong tim. Tôi đã nhiều lần thử vẽ lại chiếc lá ấy nhưng lần nào cũng đành bất lực ngồi trước mảnh vải trắng trơn. Đó là kiệt tác , một kiệt tác vĩ đại của riêng cụ Bơ-men thôi, kiệt tấc ấy đã cứu sống tôi, kéo tôi khỏi nỗi tuyệt vọng trong những ngày tăm tối nhất cuộc đời mình. Tôi biết, chỉ có lao động nghệ thuật hết mình tôi mới có thể đền đáp sự hi sinh vĩ đại của người hoạ sĩ già đáng kính ấy.
Đóng vai Giôn-xi kể lại chuyện Chiếc lá cuối cùng - Mẫu 3
Một mùa đông nữa lại đến nơi thành phố Oa-sinh-tơn và trong căn hộ nghèo bên công viên tôi cùng Xiu - người bạn đồng nghiệp đang co ro trong cái lạnh. Cụ Bơ-men, một họa sĩ già ở tầng dưới vẫn ngày ngày đều đặn đến làm mẫu vẽ cho hai chúng tôi. Chúng tôi đã cố gắng cùng nhau vượt qua mùa đông ở Oa-sinh-tơn như thế, cho đến khi tôi mắc phải căn bệnh quái ác - căn bệnh sưng phổi. Căn bệnh vắt kiệt sức lực của tôi, khiến tôi không thể vẽ nữa, phải nằm liệt giường, đồng thời cũng vắt sạch số tiền dành dụm của chúng tôi bấy lâu. Bệnh tật và nghèo đói bám riết khiến tôi dần tuyệt vọng.
Tiết trời sang đông, những chiếc lá ngoài đường từ từ rụng xuống. Cùng lúc đó, cây thường xuân trước cửa sổ nhà tôi cũng đang trút lá. Chúng chao đảo trên không trung rồi rơi hẳn xuống đất mà không vương vấn, luyến tiếc gì cành cây. Ngày ngày tôi nằm thẫn thờ nhìn từng chiếc lá rơi. Những chiếc lá thường xuân cứ rơi ngày một nhiều, cứ mỗi lần một chiếc lá lìa khỏi cành là tôi lại thấy bệnh tình một nặng thêm. Tôi không thể nhấc mình lên được: “Sự sống của mình thật mỏng manh, cứ mỗi chiếc lá rụng thì cuộc sống của mình như ngắn lại. Cho đến khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì có lẽ mình sẽ không còn tồn tại trên thế gian này nữa”. Tôi đã nghĩ như vậy và nói với chị Xiu rằng: "Khi nào chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống, em sẽ chết."
Đêm hôm đó, trời mưa rất lớn. Từng đợt gió gào rít qua khe cửa. Chắc hẳn bên ngoài kia, cây thường xuân đã trụi lá. Sáng ngày mai khi tỉnh dậy, tôi biết mình sẽ trút hơi thở cuối cùng, sẽ như cây thường xuân để gió cuốn đi.
Vừa tỉnh giấc, tôi đã thấy chị Xiu ngủ gục trên bàn. Gương mặt chị hốc hác, xanh xao đến tội nghiệp. Tôi khẽ cất tiếng gọi chị, lạnh lùng bảo chị kéo tấm rèm lên. Tôi muốn xem cây thường xuân. Xiu uể oải, chán chường miễn cưỡng làm theo lời tôi. Tôi thấy trong mắt chị có chút căng thẳng.
Nhưng trông kìa, trên cành cây, có một chiếc lá thường xuẫn vẫn còn ở đó, kiên cường bám trụ trên cành cây khẳng khiu. Nhưng chiếc lá yếu ớt ấy sẽ rụng thôi. Tôi nhún vai, chắc chắn như thế. Nó đã úa vàng rồi. Chỉ một cơn bão nữa thôi, nó sẽ rụng dễ dàng như bao chiếc lá khác.
Đêm ấy là một đêm bão bùng chưa từng thấy. Gió rít từng cơn, mưa quật tả tơi như muốn phá nát cửa sổ, quật vào trong nhà. Qua một đêm mưa gió kinh hoàng, có lẽ chiếc lá bé nhỏ ấy đã rụng rồi. Điều tôi mong chờ, giờ tôi sẽ phải làm, tôi bảo chị Xiu kéo tấm mành lên. Thật lạ kì! Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó. Tôi sửng sốt cả người và nằm suy nghĩ hồi lâu: “Có một cái gì đó đã làm cho chiếc lá không rụng và còn đấy. Chiếc lá đã chống chọi với gió bão, mưa dông để giành lại sự sống cho mình” - tôi thầm nghĩ. Chợt tôi hiểu ra rằng nếu mình có quyết tâm, có niềm tin vào sự sống thì sẽ vượt qua được bệnh tật và khó khăn trong cuộc đời. Tự nhiên tôi thấy mình là một người bị mất hết nghị lực từ bao giờ, mình không bằng một chiếc lá mong manh kia.
Lập tức, tôi vực dậy lại tinh thần. Tôi xin chị Xiu một chút cháo, ít sữa pha với vang đỏ và nhờ chị đỡ tôi ngồi dậy. Tôi thấy mình sống dậy. Hơn bao giờ hết, tôi khao khát thực hiện mơ ước của mình. Tôi bật thốt lên với chị Xiu: "Một ngày nào đó em sẽ vẽ vịnh Na-plơ." Và thế là nhờ sự chạy chữa của bác sĩ, sự chăm sóc của chị Xiu và lòng ham sống, tôi đã dần dần khỏi bệnh.
Nhưng ngay khi bệnh của tôi qua cơn nguy kịch, cũng là khi tôi nhận được tin dữ: Cụ Bơ-men đã chết. Xiu trở về sau cuộc trò chuyện với bác sĩ và báo tin ấy cho tôi. Người chị run run như chực ngã, giọng nói chị nghẹn ngào: "Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi. Cụ ốm chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, và vài chiếc bút lông rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và - em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, - cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng".
Thì ra là thế. Thì ra chính cụ Bơ-men đã hy sinh mạng sống của mình để tôi có cơ hội sống, cụ đã hy sinh ước mơ của mình cho tôi được ước mơ. Cụ ơi, cháu sẽ sống thật tốt, sống thay phần của cụ và trở thành một họa sĩ có tên tuổi. Để rồi khi đó, mọi bức tranh cháu vẽ sẽ đều kí tên cụ, cho mọi người biết đến cụ, một tấm lòng cao cả, một họa sĩ chân chính.
Trên đây, Luật Minh Khuê đã chia sẻ đến quý bạn đọc bài viết Đóng vai Giôn-xi kể lại chuyện Chiếc lá cuối cùng chọn lọc hay nhất. Hy vọng bài viết đã cung cấp đến quý bạn đọc những thông tin hữu ích. Luật Minh Khuê xin cảm ơn!