- 1. Tai nạn lao động là gì ?
- 2. Đối tượng được giải quyết chế độ tai nạn lao động
- 3. Điều kiện được hưởng chế độ tai nạn lao động
- 3.1 Về đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động
- 3.2 Địa điểm xảy ra tai nạn gồm có:
- 3.3 Thời điểm xảy ra tai nạn lao động
- 3.4 Mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động
- 3.5. Các trường hợp không được hưởng chế độ tai nạn lao động
- 4. Giải quyết chế độ tai nạn lao động trong một số trường hợp đặc biệt
- 5. Đột quỵ trong giờ làm việc có được coi là tai nạn lao động không ?
được giải quyết chế độ tai nạn lao động nhưng tôi thực lòng rất muốn giúp họ giải quyết chế độ. Tôi liên hệ với bên Thanh tra lao động sở thì chưa nhận được câu trả lời. Tôi có tìm hiểu văn bản pháp luật về tai nạn lao động, đối tượng được áp dụng mà cũng chưa rõ. Hiện tại tôi đang không biết làm như thế nào. Ngoài ra công ty tôi cũng có nhiều người thử việc, học việc. Những người này có được giải quyết chế độ tai nạn lao động hay không. Không biết Luật sư có thể giúp tôi giải mấy vấn đề trên được không ? Tôi xin cảm ơn! (Người hỏi: Tùng Vũ, Thái Bình)
Trả lời:
Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình tới Công ty Luật TNHH Minh Khuê. Trường hợp này của bạn chúng tôi xin đi vào phân tích như sau:
1. Tai nạn lao động là gì ?
Thông thường, tai nạn được hiểu là những chấn thương xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, không mong muốn, không có chủ đích dẫn đến tình trạng bị thương hoặc nặng hơn có thể gây chết người. Dựa vào nguyên nhân hình thành hoặc dạng chấn thương, quy mô số lượng, hậu quả ta có thể phân thành khá nhiều loại tai nạn như: Tai nạn do lao động, tai nạn do giao thông, tai nạn do thiên tai dịch bệnh,...
Về tai nạn lao động, khoản 8 Điều 3 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 có quy định như sau:
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Như vậy, theo quy định trên, để được coi là tai nạn lao động, trước tiên đó phải là tai nạn xảy ra một cách ngẫu nhiên, không có kế hoạch dẫn đến thương, vong cho người lao động. Và quan trọng, tai nạn này phải là nhân quả của việc thực hiện công việc lao động được giao.
2. Đối tượng được giải quyết chế độ tai nạn lao động
Có nhiều hiểu nhầm xảy ra quanh cách hiểu về đối tượng được giải quyết chế độ. Phổ biến nhất là quan điểm cho rằng: "nạn nhân của tai nạn lao động chỉ là người lao động - có hợp đồng lao động với công ty mới được giải quyết chế độ tai nạn lao động". Về vấn đề này, chúng tôi xin làm rõ như sau:
Khoản 1 Điều 2 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 có quy định đối tượng áp dụng luật này, ngoài người lao động làm việc theo hợp đồng lao động còn bao gồm cả người thử việc, người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động (tức là nếu người học nghề, tập nghề tại đơn vị A nhưng không phải để sau khi học nghề, tập nghề xong sẽ làm việc cho công ty A thì người tập nghề, học nghề đó không thuộc đối tượng được hưởng chế độ tai nạn lao động).
Và Điều 6 của Luật này cũng quy định người tập nghề, học nghề, người lao động không có hợp đồng cũng thuộc đối tượng được hưởng chế độ tai nạn lao động. Riêng đối với trường hợp người lao động không có hợp đồng quy định hơi khác một chút. Cụ thể: Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động để được giải quyết chế độ tai nạn lao động khi xảy ra tai nạn thì họ cần tham gia bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện. Tuy nhiên hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn về việc tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện (giống bảo hiểm xã hội tự nguyện) nên về cơ bản, người lao động thường chỉ có thể tham gia các gói bảo hiểm thương mại hoặc đề nghị công ty ký hợp đồng lao động để được tham gia bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc.
Đối với người thử việc, Điều 70 Luật an toàn vệ sinh lao động có quy định sau:
2. Người sử dụng lao chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với người học nghề, tập nghề, thử việc như đối với người lao động tại Luật này kể cả trường hợp bị tai nạn lao động.
Khi bị tai nạn lao động, người lao động sẽ vừa được người sử dụng lao động hỗ trợ, bồi thường và vừa được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, đối với người thử việc, theo quy định tại khoản 2 Điều 70 thì họ chỉ được người sử dụng giải quyết chế độ (theo quy định tại Điều 38, 39 Luật này) mà không được giải quyết chế độ tại cơ quan bảo hiểm xã hội. Do vậy, người sử dụng lao động cần lưu ý trường hợp này để tránh thiếu xót trong quá trình thực hiện chế độ người lao động.
3. Điều kiện được hưởng chế độ tai nạn lao động
3.1 Về đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động
Như đã giải thích ở trên, chúng tôi xin tóm gọn lại như sau:
- Người lao động có hợp đồng lao động, người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc: Được người lao động giải quyết chế độ theo quy định tại Điều 38, Điều 39 và được cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả chế độ theo quy định tại Mục 3 chương III Luật an toàn vệ sinh lao động.
- Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động: tham gia bảo hiểm tai nạn lao động để được hưởng chế độ khi xảy ra tai nạn.
- Người thử việc: Được người sử dụng lao động thanh toán chế độ theo quy định.
3.2 Địa điểm xảy ra tai nạn gồm có:
- Tai nạn tại nơi làm việc;
- Ngoài nơi làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
- Tai nạn trên tuyến đường hợp lý và trong thời gian hợp lý từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở. Tuyến đường hợp lý và thời gian hợp lý có thể hiểu như sau: Ví dụ: khoảng cách từ nhà ông A đến công ty là 10km. Tuyến đường ông A hay đi là xuất phát từ nhà rẽ sang đường B sau đó đi thẳng tới công ty, thời gian mất tầm 30 phút. Nếu ông A xảy ra tai nạn lao động trong khoảng thời gian 30 phút khi đi từ nhà đến công ty hoặc từ công ty về thì ông A đáp ứng điều kiện. Nhưng nếu trên đường về, ông A rẽ vào quán bia khoảng 30 phút rồi mới về nhà và gặp tai nạn thì đây không được gọi là khoảng thời gian hợp lý. Hoặc trường hợp ông A muốn đến công ty sớm mà đi tắt các đường không cho phép lưu thông và xảy ra tai nạn thì không được coi là tuyến đường hợp lý. Về cơ bản, trong mỗi trường hợp xảy ra tai nạn giao thông, để xác định có phải là tai nạn lao động hay không cũng không quá khó khăn.
3.3 Thời điểm xảy ra tai nạn lao động
- Tai nạn xảy ra trong giờ làm việc (bao gồm cả thời gian nghỉ giải lao, ăn ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh, tắm rửa, cho con bú,... theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật an toàn vệ sinh lao động.
- Tai nạn xảy ra ngoài giờ làm việc nhưng việc làm ngoài giờ này theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền lợi của người lao động, bản thân họ cần yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp văn bản hoặc email giao việc ngoài giờ làm căn cứ;
- Tai nạn xảy ra trong thời gian hợp lý khi đi làm và về nhà. Vấn đề này đã được phân tích ở phần thứ nhất, địa điểm xảy ra tai nạn.
3.4 Mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động
Mức độ suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.
3.5. Các trường hợp không được hưởng chế độ tai nạn lao động
Khoản 1 Điều 40 Luật an toàn vệ sinh lao động quy định cụ thể như sau:
1. Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Luật này nếu bị tai nạn thuộc một trong các nguyên nhân sau:
a) Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;
b) Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;
c) Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.
4. Giải quyết chế độ tai nạn lao động trong một số trường hợp đặc biệt
- Trường hợp người lao động sau khi về hưu mới đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động:
Người sử dụng lao động nơi người lao động bị tai nạn sẽ lập hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ và gửi về Cơ quan Bảo hiểm xã hội nơi chi trả lương hưu cho người lao động.
- Trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều công ty thì theo nguyên tắc người lao động xảy ra tai nạn lao động ở đơn vị nào, đơn vị nào phân công công việc dẫn đến bị tai nạn lao động sẽ chịu trách nhiệm giải quyết.
- Trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động ở nhiều nơi, bị tai nạn giao thông trên đường di chuyển từ đơn vị này sang đơn vị khác để làm việc thì đơn vị người lao động tới làm việc sẽ chịu trách nhiệm giải quyết. Ví dụ, anh A đi từ nơi làm việc đầu tiên là công ty X đến công ty Y để làm ca làm việc tiếp, anh A bị tai nạn trên đường từ X đến Y thì phía công ty Y sẽ chịu trách nhiệm chi trả chế độ và lập hồ sơ gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội.
- Trường hợp tai nạn do các yếu tố bệnh lý trong quá trình lao động: trường hợp này không thể khẳng định luôn có phải là tai nạn lao động hay không mà phải căn cứ vào kết quả điều tra của Đoàn điều tra tai nạn lao động được thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phê duyệt để giải quyết.
- Người lao động bị tai nạn lao động trong thời gian không tham gia quỹ bảo hiểm tai nạn lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết quyền lợi bao gồm hai chế độ: một là trách nhiệm của bản thân người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 39 và hai là cộng thêm một khoản tương ứng với chế độ bảo hiểm tai nạn lao động như quỹ bảo hiểm xã hội chi trả.
5. Đột quỵ trong giờ làm việc có được coi là tai nạn lao động không ?
Đột quy hay tai biến mạch máu não thực chất là hai cách gọi khác nhau của cùng một loại bệnh gây tổn thương não do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Tổ chức y tế thế giới WHO liệt đột quỵ vào top 5 bệnh lý gây tử vong cao nhất thế giới.
Như vậy, đột quỵ có thể được xem là bệnh lý khi xảy ra tai nạn lao động. Việc xem xét đột quỵ có được coi là tai nạn lao động hay không quy về trường hợp tai nạn lao động do bệnh lý đã được phân tích tại mục 2.4 Giải quyết chế độ tai nạn lao động trong một số trường hợp đặc biệt - Trường hợp tai nạn do các yếu tố bệnh lý trong quá trình lao động. Đối với trường hợp này, người sử dụng lao động cần báo ngay tới Thanh tra sở lao động thương binh và xã hội để thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động.
Nếu đột quỵ xảy ra là hậu quả của việc lao động quá sức tức là nguyên nhân dẫn đến đột quỵ là do việc lao động thì có thể xếp đột quỵ vào tai nạn lao động. Nhưng nếu nguyên nhân dẫn đến đột quỵ là do các yếu tố bệnh lý nền có sẳn trong cơ thể người lao động thì trường hợp này không được xem là tai nạn lao động. Tuy nhiên như đã nói ở trên, việc có hay không là tai nạn lao động cần căn cứ vào biên bản điều tra tai nạn lao động được thanh tra sở Lao động thương binh và xã hội phê duyệt.
Nói tóm lại, việc giải quyết chế độ tai nạn lao động cho một số trường hợp vẫn còn nhiều vướng mắc chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể. Cần xem xét tới các yếu tố mới có thể xác định chính xác các đối tượng được hưởng chế độ tránh làm mất quyền lợi của người lao động.