1. Sẽ áp dụng chế độ Bảo hiểm tai nạn lao động năm 2024 vào thời điểm nào khi người lao động bị tai nạn lao động?

Theo khoản 8 Điều 3 của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, định nghĩa về tai nạn lao động được cụ thể hóa như sau: tai nạn lao động là một sự cố gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận nào của cơ thể hoặc dẫn đến tử vong của người lao động, xảy ra trong quá trình làm việc và có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Định nghĩa này nhấn mạnh rằng tai nạn lao động không chỉ là sự cố gây tổn thương mà còn có thể dẫn đến tử vong, đồng thời chỉ rõ rằng tai nạn phải xảy ra trong quá trình làm việc. Không chỉ vậy, mối liên hệ trực tiếp với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động cũng được đề cập, từ đó đảm bảo rằng tai nạn lao động thực sự là kết quả của hoạt động lao động chính thức, không phải là những sự cố cá nhân hoặc ngoài ý muốn.

Định nghĩa này không chỉ giúp xác định rõ ràng và cụ thể về tai nạn lao động mà còn là cơ sở để xây dựng các chính sách, biện pháp bảo vệ người lao động trước nguy cơ và hậu quả của tai nạn lao động. Đồng thời, việc đặt ra định nghĩa rõ ràng cũng giúp cho việc quản lý, thống kê và phân loại tai nạn lao động được thực hiện một cách chính xác và hiệu quả hơn, từ đó cung cấp cơ sở dữ liệu chính xác để đánh giá và điều chỉnh các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu tai nạn lao động trong tương lai.

Thời điểm áp dụng chế độ Bảo hiểm tai nạn lao động (thời điểm hưởng trợ cấp) của người bị tai nạn lao động được quy định chi tiết tại Điều 50 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015. Cụ thể như sau:

- Đối với thời điểm hưởng trợ cấp quy định tại các điều 48, 49 và 52 của Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, thời gian bắt đầu tính trợ cấp là từ tháng người lao động điều trị ổn định xong và ra viện, hoặc từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa trong trường hợp người lao động không điều trị nội trú.

Trong trường hợp phải giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động theo khoản 2 Điều 47 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp được tính từ tháng người lao động hoàn thành điều trị và ra viện lần cuối cùng đối với tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Nếu không điều trị nội trú, thời điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng có kết luận giám định tổng hợp của Hội đồng giám định y khoa.

Nếu người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nhưng không xác định được thời điểm điều trị ổn định và ra viện, thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp sẽ được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa. Đối với trường hợp bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp, thời điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng người lao động được cấp Giấy chứng nhận bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

- Nếu người lao động được đi giám định mức suy giảm khả năng lao động theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp mới sẽ được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng giám định y khoa.

 

2. Các trường hợp cụ thể áp dụng chế độ bảo hiểm TNLĐ năm 2024:

Tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH, quy định về trợ cấp tai nạn lao động như sau:

Người lao động bị tai nạn lao động gây suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc thân nhân của người lao động bị chết do tai nạn lao động sẽ được hưởng chế độ trợ cấp tai nạn lao động. Điều này áp dụng ngay cả khi nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động là do lỗi hoàn toàn của chính người lao động bị nạn, dựa trên kết luận của biên bản điều tra tai nạn lao động.

Nguyên tắc trợ cấp được quy định rõ ràng: mỗi lần xảy ra tai nạn lao động, trợ cấp sẽ được thực hiện một lần, không cộng dồn các vụ tai nạn đã xảy ra từ các lần trước đó.

Về mức trợ cấp, quy định cụ thể như sau:

- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc thân nhân của người lao động bị chết do tai nạn lao động sẽ nhận ít nhất 12 tháng tiền lương. Điều này đồng nghĩa với việc người lao động hoặc gia đình của họ sẽ nhận được một khoản tiền tương đương với thu nhập mà họ đã mất đi do tai nạn lao động gây ra. Mức trợ cấp này không chỉ giúp họ duy trì cuộc sống hàng ngày mà còn hỗ trợ trong việc chi trả các chi phí cần thiết như chi phí y tế, sinh hoạt và gia đình. Đồng thời, việc đảm bảo mức trợ cấp ít nhất 12 tháng tiền lương cũng thể hiện sự quan tâm và chăm sóc của pháp luật đối với người lao động và gia đình của họ trong những tình huống khó khăn như vậy. Nó là một biện pháp bảo vệ xã hội cần thiết, giúp người lao động và gia đình của họ có thể ứng phó với những thách thức và khó khăn trong cuộc sống sau tai nạn lao động.

- Người bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10% sẽ nhận ít nhất 0,6 tháng tiền lương. Đối với những người bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%, mức trợ cấp sẽ được tính theo công thức hoặc tra theo bảng tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Như vậy, người lao động sẽ được hưởng chế độ trợ cấp tai nạn lao động khi đáp ứng hai điều kiện quan trọng. Thứ nhất, người lao động phải bị tai nạn lao động gây suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc thân nhân của người lao động bị chết do tai nạn lao động. Thứ hai, nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động phải hoàn toàn do lỗi của chính người lao động bị nạn gây ra, dựa trên kết luận của biên bản điều tra tai nạn lao động. Các quy định này đảm bảo rằng người lao động và thân nhân của họ nhận được sự hỗ trợ cần thiết khi gặp phải tai nạn lao động, ngay cả trong trường hợp tai nạn là do lỗi của người lao động. Điều này cũng thể hiện sự công bằng và nhân văn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quá trình làm việc.

 

3. Quy trình giải quyết chế độ bảo hiểm TNLĐ năm 2024:

Căn cứ Điều 59 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, quy định về việc giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được thực hiện như sau:

(1) Trình tự thực hiện:

Bước 1: Lập và nộp hồ sơ Người lao động (NLĐ) phải lập hồ sơ theo quy định và nộp cho đơn vị sử dụng lao động (SDLĐ). Sau khi tiếp nhận hồ sơ từ NLĐ, đơn vị SDLĐ sẽ lập Văn bản đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động (TNLĐ) hoặc bệnh nghề nghiệp (BNN) theo mẫu số 05A-HSB, hoàn thiện hồ sơ theo quy định và nộp cho cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) nơi đơn vị SDLĐ đóng BHXH trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ NLĐ.

Bước 2: Cơ quan BHXH tiếp nhận hồ sơ và giải quyết theo quy định.

Bước 3: Nhận kết quả Đơn vị SDLĐ và NLĐ sẽ nhận kết quả giải quyết từ cơ quan BHXH.

(2) Thời hạn giải quyết: Thời gian giải quyết tối đa là 06 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan BHXH nhận đủ hồ sơ theo quy định.

(3) Kết quả giải quyết: Kết quả bao gồm:

- Quyết định về việc hưởng trợ cấp TNLĐ hoặc BNN hàng tháng hoặc một lần, dựa trên giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động (KNLĐ) và quyết định về việc cấp tiền mua phương tiện hỗ trợ sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình (nếu có).

- Bản quá trình đóng BHXH.

- Thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) đối với trường hợp nghỉ việc hưởng trợ cấp TNLĐ hoặc BNN hàng tháng.

- Tiền trợ cấp.

Các quy định này đảm bảo rằng quy trình giải quyết hồ sơ được thực hiện một cách minh bạch, nhanh chóng và chính xác, giúp người lao động và thân nhân của họ nhận được trợ cấp kịp thời và đúng quy định.

 

Xem thêm bài viết: Trách nhiệm bồi thường, trợ cấp của công ty với NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định mới

Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật nhanh chóng.