Khái niệm dung tích đăng ký tịnh

Dung tích đăng ký tịnh (N.r.t.) là viết tắt của “Net Register Tonnage” hoặc “Net Registered Tonnage”. Thuật ngữ này đã thay đổi cách viết, hiện nay chỉ là “Net Tonnage”, viết tắt là NT.

Dung tích đăng kí của tàu trong tiếng Anh là Register Tonnage. Dung tích đăng kí của tàu là thể tích các khoảng trống khép kín trên tàu được tính bằng mét khối, c.ft hoặc tấn đăng kí (Register Ton). Một tấn đăng kí bằng 100 c.ft hoặc bằng 2,83 mét khối

Dung tích – Tonnage của một tàu gồm Tổng dung tích – GT và Dung tích thuần – NT.
Gross tonnage (GT) tiếng Việt gọi là “tổng dung tích”, là số đo dung tích của toàn bộ các không gian kín ở trên tàu, bao gồm cả thể tích của ống khói. GT của tàu là cơ sở để tính các phí hàng hải như phí hoa tiêu, phí đăng ký, phí bảo hiểm và để làm cơ sở áp dụng cho các công ước hàng hải khác. 1 GT bằng 100 feet khối hay bằng 2,831 mét khối.

Net Tonnage (NT) tiếng Việt gọi là “Dung tích thuần”, là số đo dung tích của không gian giới hạn từ mặt boong chính trở xuống bao gồm không gian bên trong các hầm hàng, khu vực buồng máy, toàn bộ các két phía ngoài buồng máy và các không gian kín ở đáy đôi của con tàu và được sử dụng để tính các phí thuộc quyền hạn của chính quyền cảng (cảng vụ).

Thuật ngữ liên quan

Dung tích chứa hàng của tàu (Cargo Space) là khả năng xếp của các loại hàng khác nhau trong hầm tàu. Có hai loại dung tích chứa hàng của tàu:

- Dung tích chứa hàng có bao kiện (Bale Space, Bale Capacity) là khả năng xếp các hàng có bao gói trong hầm tàu tính bằng đơn vị c.ft.

- Dung tích chứa hàng rời (Grain Space, Grain Capacity) là khả năng xếp các hàng rời trong hầm tàu tính bằng đơn vị c.ft.

Các loại dung tích đăng kí

Có hai loại dung tích đăng kí của tàu:

- Dung tích đăng kí toàn phần (Gros Register Tonnage - GRT): là dung tích của các khoảng trống khép kín trên tàu, tính từ boong trên cùng trở xuống, trừ các khoảng trống sau: khoang trống để chứa nước dằn tàu (Water Ballast), lối đi trong hầm tàu, buồng lái, buồng hải đồ, buồng tắm, buồng vệ sinh, phòng sửa chữa, kho...

Dung tích đăng kí toàn phần dùng để thống kê tàu, biên chế sĩ quan thủy thủ, đôi lúc dùng để tính các loại phí...

- Dung tích đăng kí tịnh (Net Register Tonnage - NRT) là dung tích các khoảng trống khép kín để chứa hàng trên tàu. Dung tích đăng kí tịnh của tàu bằng dung tích đăng kí toàn phần trừ đi dung tích các phòng ăn, ở, giải trí của thuyền trưởng và thuyền viên, dung tích buồng máy và buồng hoa tiêu. Dung tích đăng kí tịnh của tàu thường dùng để tính phí qua kênh đào, phí cảng, phí hoa tiêu...

Dung tích đăng kí của tàu phụ thuộc vào cấu trúc của tàu và hệ thống đo lường áp dụng khi đăng kí tàu. Trên thế giới hiện nay có hai hệ thống đo lường dung tích tàu:

+ Theo hệ Mooroom: dung tích tàu chỉ tính thể tích bên trong chứ không tính boong trên cùng (Shelterdeck Space).

+ Theo tập quán của kênh đào Suez và Panama: dung tích tàu tính cả dung tích boong trên cùng

Thể hiện bằng hình vẽ:

GT là được tô xanh, bao gồm: hầm hàng, các két đáy đôi và 2 két mũi lái, buồng máy, ca bin, các kho mũi và lái, các monkey islands (khoang phía trên mặt boong chính để bố trí các tời cẩu hàng) và cột tàu Ships masts. Trên hình vẽ minh họa có một monkey island. Thể tích ống khói không được gộp vào GT.

NT bao gồm: hầm hàng, các két đáy đôi và 2 két mũi lái, buồng máy. Không bao gồm: ca bin, các kho mũi và lái, các monkey islands và cột tàu.

Theo công ước quốc tế của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) về đo dung tích tàu năm 1969 thì trừ tàu chiến và tàu có chiều dài nhỏ hơn 24 mét (79 feet), tất cả các tàu biển đều có phải giấy chứng nhận dung tích tàu của cơ quan đăng kiểm.

Ngày trước còn có hai khái niệm Gross Register Tonnage (GRT) và Net Register Tonnage (NRT) nhưng nay không được sử dụng nữa mặc dù hai khái niệm này cũng chính là của GT và NT. IMO đã thay thế GRT và NRT bằng GT và NT. Wording của công ước và các phụ lục liên quan, cũng như trong các giấy chứng nhận dung tích không còn sử dụng GRT và NRT.

Đơn vị của Dung tích theo cách gọi thông thường là “tấn”, nhưng khác với tấn = 1.000kg, và khác với đơn vị tấn được sử dụng trong Trọng tải.

Khi nói GT của tàu là 1.599 tấn thì phải hiểu là dung tích toàn phần của nó là 1.599 tấn dung tích toàn phần hay con tàu đó có dung tích GT là 1.599 nhân với 2,831m3 thành 4526,77 m3.

Trọng tải của tàu

Trọng tải – DWT (cũng được gọi là deadweight) là số đo của khối lượng hàng, đồ vật khác mà tàu có thể chở được.

Trọng tải tàu trước đây được gọi bằng “tấn dài”, giờ đây quốc tế thống nhất cách gọi chung là “tấn” (tonnes). Cần phân biệt đơn vị tấn giữa GT, NT và DWT.

Cụ thể:

1 tấn trọng tải DWT = 2.240 pounds (đơn vị khối lượng Anh) = 1.016,05 kg (1.000 kg = 1 tấn)

1 MT (tấn mét) = 2204 pounds = 1.000 kg

Ví dụ: Tàu có trọng tải 5.000 tấn tại bất kỳ thời điểm được hiểu là tổng khối lượng tàu có thể chở được bao gồm: hàng hóa, nhiên liệu, nước dằn, lương thực thực phẩm, trọng lượng hành khách, thuyền viên, phụ tùng thay thế tối đa là 5.000 tấn.

Hay: Trọng tải (DWT) = Sức chở hàng của tàu + Trọng lượng thuyền viên, hành lý, thực phẩm, nước ngọt, dầu mỡ, nước dằn tàu….

SỰ KHÁC NHAU GIỮA DWT VÀ GT:

Đây là hai khái niệm đo lường khác nhau cho một con tàu, không ít bạn đồng nghiệp, nhất là đồng nghiệp mới vào nghề, không phân biệt rõ ràng và đôi khi nhầm lẫn.

DEADWEIGHT (DWT)


Là TỔNG TRỌNG TẢI – DWT ( Deadweight Capacity) của tàu đơn vị là “tấn”, chỉ ra khối lượng hàng hóa mà con tàu có thể chuyên chở an toàn, trong đó bao gồm khối lượng hàng hóa trên tàu, thuyền viên, kho tàng, nhiên liệu, nước ngọt, nước dằn v.v ….

Nếu TỔNG TRỌNG TẢI vượt qua DWT mà nhà đóng tàu chứng nhận thì con tàu ở trong tình trạng nguy hiểm có thể bị chìm hoặc hư hỏng do vượt tải.

Có thể viết công thức khái quát như sau:
DWT = (Lượng chiếm nước đầy tải) – (Khối lượng tàu không)

Dung tích của tàu được chia lảm 3 loại gồm:

TỔNG DUNG TÍCH GT (GROSS TONNAGE), DUNG TÍCH TỊNH NT (NET TONNAGE) VÀ DUNG TÍCH KÊNH ĐÀO.

Để giản đơn và cải tiến phương pháp đo lường dung tích của tàu, đáp ứng sự phát triển của ngành đóng tàu. Tổ chức Hàng hải Quốc tế IMO đã thông qua “Công ước đo lường dung tích tàu thuyền quốc tế năm 1969 (International Convention on Tonnage Measurement of Ships 1969). Công ước này đã có hiệu lực đầy đủ vào năm 1974.

Xin nhắc lại rằng đã từ lâu không còn khái niệm một đơn vị ‘tấn dung tích’ bằng 2,83 mét khối, tương đương 100 feet khối như trước khi có Công ước này quy định. Chữ ‘tonnage’ ở đây không liên quan gì đến ‘tấn’ biểu thị trọng lượng cả.
Theo công ước nói trên, tùy phạm vi ứng dụng, dung tích đăng ký của tàu được chia làm 3 loại như sau:

A. TỔNG DUNG TÍCH GT (GROSS TONNAGE)

1. Công thức tính GT:

Tổng dung tích GT (Gross Tonnage) của tàu là dung tích tính dựa trên tòan bộ thể tích bên trong con tàu bao gồm cả phòng sinh hoạt cho thuyền viên, không gian cho buồng máy, trang thiết bị hàng hải … (Còn NT là dung tích các không gian kín để chứa hàng hóa).

GT được tính toán trên cơ sở coi nó là “hàm số ánh xạ một-một” (one-to-one function) của dung tích. GT có hai biến số K và V. (xin miễn đi sâu vào toán học ở đây)

GT = KV

Trong đó,
V – Thể tích khép kín (enclosed space) bên trong tàu (m3)
K– Là số nhân phụ thuộc thể tích khép kín V bên trong tàu.
Số nhân K biến thiên theo toàn bộ dung tích của tàu (m3) và được coi như là môt yếu tố khuyếch đại để xác định giá trị của GT. Đối với tàu nhỏ thì K nhỏ, tàu lớn hơn thì K lớn hơn. K nằm trong khoảng 0,22 đến 0,32 và được tính toán bằng công thức logarithm cơ số 10.
K= 0,2+0,02 x log10(V)

GT= V x (0,002log10(V)+0,2)
Như vậy đơn vị của GT bao gồm mét và log của mét đã không còn có ý nghĩa vật lý nữa, nó chỉ có ý nghĩa biểu trưng độ lớn nhỏ của con tàu được lựa chọn cho thuận tiện mang tính lịch sử.

Có thể lấy một ví dụ để tính GT của một con tàu có dung tích toàn phần là 10.000 m3 như sau:
K = 0,2 + 0,02 x log10 (10.000)
= 0,2 + 0,02 x 4
= 0,2 + 0,08
K = 0,28

Vậy,
GT = 10.000 x 0,28 = 2.800.

2. Ứng dụng của GT
Tổng dung tích GT dùng để :

a) Biểu thị mức độ lớn nhỏ của tàu, là số đo biểu thị năng lực đội tàu;

b) Để phân chia đẳng cấp tàu theo quy phạm quốc gia và công ước quốc tế. đồng thời là căn cứ để lập ra các tiêu chuẩn quản lý kỹ thuật và yêu cầu thiết bị của tàu thuyền;

c) Là cơ sở để thu phí đăng ký, đăng kiểm;

d) Làm căn cứ để dự tính chi phí đóng tàu, mua bán thuê tàu, các tranh chấp khiếu nại bồi thường về tổn thất hư hại hàng hải;

e) Một số cảng dùng làm cơ sở tính chi phí cảng;

f) Làm cơ sở để tính dung tích tịnh;

g) Phân định giới hạn trách nhiệm trong các công ước quốc tế.

B. Dung tích tịnh NT (Net Tonnage)

Dung tích tịnh NT là số đo dung tích có ích, tức dung tích có thể chứa hàng và hành khách. Nói cách khác NT của tàu bằng GT trừ đi không gian dùng cho thuyền viên, không gian buồng máy, trang thiết bị hàng hải. Dung tích tịnh NT dùng để tính toán chi phí và tính thuế cảng (chi phí cảng vụ, hoa tiêu, cầu bến, thuế dung tích…)

C. Dung tích kênh đào Suez, kênh đào Panama ( Suez tonnage, Panama tonnage)

Để đảm bảo lợi ích quốc gia của mình, nhà đương cục kênh đào Suez và Panama không công nhận số đo dung tích của các quốc gia sở hữu tàu. Họ quy định cách đo lường dung tích riêng của họ để làm căn cứ tính toán chi phí đi qua các kênh trong lãnh thổ của họ.

Theo quy định của họ, một số không gian nào đó trên tàu phải được tính thêm vào dung tích của tàu. Dung tích qua kênh đào cũng chia làm hai loại: tổng dung tích kênh đào và dung tích kênh đào tịnh.

Dung tích kênh đào chỉ sử dụng để làm cơ sở tính toán chi phí qua kênh.

MỐI QUAN HỆ GIỮA DWT VÀ GT:

Theo thói quen khi nói đến một con tàu lớn bé ra sao ta thường lấy DWT để xác định con tàu có thể chuyên chở bao nhiêu hàng hóa.. Tuy nhiên, đôi khi người ta chỉ đưa ra GT của tàu khiến ta khó hình dung cụ thể khả năng chuyên chở của nó. Các công thức đơn giản gần đúng dưới đây biểu thị mối quan hê giữa DWT và GT, giúp ta tính toàn DWT của mỗi loại tàu khi biết GT.

General Cargo Ship GT = 0.5285DWT
Container Ship GT = 0.8817DWT
Oil Tanker GT = 0.5354DWT
Roll-on/Roll-off Ship GT = 1.7803DWT
Pure Car Carrier GT = 2.7214DWT
LPG Ship GT = 0.8447DWT
LNG Ship GT = 1.3702DWT
Passenger Ship GT = 8.9393DWT