1. Hai bà Trưng

Hai bà Trưng là cái tên quen thuộc mà người ta thường gọi khi nhắc đến hai chị em gái lạc tướng về Vĩnh Phúc. Tháng 3 năm 40, Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát (Hát Môn, Hà Tây, nay là Hà Nội). Nghĩa quân nhanh chóng làm chủ Mê Linh.Từ Mê Linh nghĩa quân tiến đánh Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội); rồi từ đó tiến về Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh),trung tâm của chính quyền đô hộ. Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, các cuộc khởi nghĩa ở khắp bốn quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đã thống nhất thành một phong trào nổi dậy rộng lớn cả nước.

Cuộc khởi nghĩa giành lại chính quyền của Hai bà Trưng đã làm cho chính quyền đô hộ bị tan rã và sụp đổ nhanh chóng. Bên cạnh đó còn làm cho quân Hán hoảng sợ bỏ hết của cải, vũ khí, ấn tín chạy tháo thân về nước. Tô Định phải cắt tóc, cạo râu, mặc giả thường dân, lẩn vào đám tàn quân trốn về Trung Quốc. Cuộc khởi nghĩa diễn ra chỉ trong vòng không đầy một tháng thì cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi và giành lại nền độc lập dân tộc sau hơn hai thế kỷ bị phong kiến nước ngoài đô hộ.

Trưng Trắc được suy tôn lên làm vua (Trưng Vương) và đóng đô ở Mê Linh (Vĩnh Phúc)

Hai bà Trưng được biết đến là hai nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam,Và thông thường khi nhắc đến hai bà trưng người ta thường nhớ đến hình ảnh hai người phụ nữ cưỡi voi đánh giặc. 

 

2.  Ngô Quyền

Ngô Quyền sinh ngày 17 tháng 4 năm 898 mất ngày 14 tháng 02 năm 944, ông còn được biết đến là với tên gọi là Tiền Ngô Vương. Khi nhắc đến Ngô Quyền thì không thể nào chúng ta không nhắc đến trận đánh ghi vào lịch sử vô cùng hào hùng đó là trận đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc gần một năm Bắc 

Để đánh thắng quân Nam Hán thì ông đã lợi dụng  thủy triều lên xuống và ông cho bố trí một trận địa cọc nhọn bịt  sắt để cắm xuống lòng  sông  Bạch Đằng. Chúng ta dựa vào trí dựa vào thủy triều để đánh giặc, lúc mà chiến  thuyền  của giặc hùng hổ tiến vào sông Bạch Đằng thì quân ta nhử cho giặc vượt qua trận địa cọc, đợi cho nước  thủy triều xuống, đánh trước mặt và hai bên bờ sông làm cho thuyền giặc tháo chạy  va vào cọc nhọn bịt sắt  bị đắm chìm gần hết. Thái tử Hoằng Tháo chết tại trận, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân Nam Hán.

Sau chiến thắng tại Bạch Đằng thì Ngô Quyền lên ngôi vua đóng đô ở Cổ Loa và ông là người đã mở ra một kỷ nguyên mới dựng nền độc lập tự chủ, tức là đặt nền móng  cho một quốc gia độc lập, Ngô Quyền làm vua  từ năm 939 đến 944 thì mất.

 

3. Đinh Bộ Lĩnh

Đinh Thiên Hoàng sinh ngày 22 tháng 03 năm 924 mất tháng 10 năm 979, tên húy là Đinh Bộ Lĩnh. Khi nhắc đến Đinh Bộ Lĩnh thì người dân Việt Nam sẽ nhớ ngay đến sự kiện dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn.

Năm 944  vua Ngô Quyền mất thì một năm sau tức là năm 945 thì Dương Tam Kha chiếm khôi và xưng là Bình Vương. Con trai Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập đã chạy về Nam Sách (nay là địa bàn tỉnh Hải Dương) tạo nên cuộc tranh chấp ngôi báu giữa nhà Ngô và ngoại tộc. Dương Tam Kha đã  bại trận, Ngô Xương Ngập cùng em là Ngô Xương Văn nắm lại quyền lực

Đến năm 954 thì Ngô Xương Ngập bị bệnh và chết. Hơn 10 năm sau, Ngô Xương Văn đã đem quân đi đánh các thế lực chống đối và chết tại  trận. Không còn chính quyền trung ương, đất nước càng thêm rối loạn rồi bị chia rẽ sâu sắc bởi sự nổi lên của 12 sứ quân. Cùng thời gian đó thì Đinh Bộ Lĩnh đã thuyết phục và vận động thực hiện liên kết, hàng phục và dùng sức mạnh quân sự để đánh dẹp các thế lực cát cứ. 

Ông đã lần lượt thu phục các sứ quân và chấm dứt tình trạng phân chia cát cứ tiến hành thống nhất đất nước và còn được gọi là Vạn Thắng Vương. Vào năm Mậu Thìn ( năm 968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, lấy tên là  Đinh Tiên Hoàng đế và đặt tên nước là Đại Cồ Việt và cho định đô ở Hoa Lư ( Ninh Bình ngày nay).

 

4. Quang Trung

Nguyễn Huệ và hai người anh em của ông là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ được biết đến với tên gọi Tây Sơn tam kiệt, họ là những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng anh tham gia công việc chuẩn bị khởi nghĩa, trước hết là tập hợp lực lượng và xây dựng căn cứ trên Tây Sơn thượng đạo từ năm 1771

Vào năm 1773 thì ở năm này Nguyễn Nhạc bắt đầu mở cuộc tấn công xuống Tây Sơn hạ đạo và chính thức khởi đầu cuộc khởi nghĩa vũ trang. Cũng ngay trong năm 1773 thì Nguyễn Nhạc dùng mưu trí để hạ thành Quy Nhơn và sau đó thì ông đã rất nhanh chóng giải phóng cả một vùng rộng lớn từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận.

Đến cuối năm 1775 thì quân Tây Sơn đã làm chủ cả vùng đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Từ đó thì Nguyễn Nhạc đã bắt đầu dồn sức mở những cuộc tấn công vào quân Nguyễn ở Gia Định và giải phóng toàn bộ Gia Định ( 1783)

Vào ngày 28 tháng 4 năm Bính Ngọ tức là vào ngày 25/5/1786 thì Nguyễn Nhạc đã cử Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, đánh Phú Xuân, chiếm Thuận Hóa, đánh lui quân Trịnh, giải phóng toàn bộ đất Đàng Trong.

Vào ngày 4 tháng 5 năm Bính Ngọ tức ngày 10/6/1786, Nguyễn Huệ hạ thành Phú Xuân rồi nhanh chóng tiến ra vùng ranh giới bờ nam sông Gianh.

Thủy quân Tây Sơn vượt biển đánh chiếm Vị Hoàng ( nay là Nam Định) rồi tiến lên Thăng Long. Và chỉ trong vòng 10 ngày thì quân Tây Sơn đã đánh tan quân Trịnh, đến ngày 26 tháng 6 năm Bính Ngọ tức là ngày 21/7/1786 chiếm thành Thăng Long.

Ngày 7 tháng 7 năm Bính Ngọ (tức là ngày 31/7/1786) Nguyễn Huệ đã yết kiến vua Lê Hiển Tông tại điện Kính Thiên, trình bày lẽ diệt Trịnh.

Sau đó thì Vua Lê đã phong Nguyễn Huệ làm Nguyên súy dực chính phù vận Uy quốc công và đồng thời vua Lê cũng đã gả công chúa Ngọc Hân. Và cũng trong thời gian ở Thăng Long lo ổn định tình hình chính trị Bắc Hà.

Nói chung thì chúng ta có thể khẳng định một điều đó là phong trào Tây Sơn đã có một số cống hiến đáng kể trên con đường lập lại nền thống nhất quốc gia: đầu tiên có thể nói đến là xóa bỏ tình trạng phân liệt Đàng Trong - Đàng ngoài kéo dài trên hai thế kỷ; thứ hai là phong trào tây sơn đã lật đổ chính quyền chúa Nguyễn và chúa Trịnh. Trong hai cống hiến đó thì lực lượng quyết định là phong trào Tây Sơn và người tổ chức, lãnh đạo thành công là Nguyễn Huệ. Đến ngày nay thì lịch sử Việt Nam vẫn nhắc đến Nguyễn Huệ như một vị anh hùng lớn của dân tộc và được thế hệ sau này ghi nhớ công ơn to lớn này. 

 

5. Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 05 năm 1890 mất ngày 02 tháng 09 năm 1969 tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, Bác là một anh hùng vĩ đại của dân tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất. vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân Việt Nam. 

Năm 1911, Bác ra nước ngoài, làm nhiều việc nhiều nghề và tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước. Và Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa. Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921, người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927) 

Ngày 3-2-1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam ).

Năm 1941, Người về nước, triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đường lối cứu nước, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, chính sách căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 19-12-1946, người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trên đây là 5 vị anh hùng dân tộc mà chúng tôi muốn giới thiệu đến cho các bạn hi vọng rằng thông qua những thông tin mà chúng tôi cung cấp thì đã giúp cho các bạn có thêm tinh thần yêu nước và tìm hiểu về lịch sử dân tộc nhiều hơn. 

Nếu các bạn có thắc mắc về nội dung bài viết của chúng tôi thì có thể liên hệ đến tổng đài 19006162 hoặc gửi phản hồi về địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được hướng dẫn một cách cụ thể.