Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

Theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì hôn nhân được hiểu là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014), đây cũng là khái niệm mà luật Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định tại khoản 6 Điều 8.

– Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tại Khoản 5 Điều 3 thì “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quạn hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”.

– Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tại Khoản 14 Điều 13 thì “Li hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.”

– Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là nguyên lí, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.

Cơ sở của nguyên tắc

Hôn nhân tự nguyện tiến bộ, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác bao hàm cả hai khía cạnh, đảm bảo quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn. Xuất phát từ chỗ tình yêu được coi là cơ sở của hôn nhân cho nên việc quyết định lựa chọn người bạn đời và đi đến hôn nhân phải là việc của bản thân hai bên nam nữ. Mặt khác, khi tình yêu giữa hai bên nam nữ không còn nữa thì việc đảm bảo cho họ được tự do ly hôn lại thực sự cần thiết vì như vậy là giải phóng cho họ. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác, Luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta đã ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, trên cơ sở này nam nữ được bình đẳng trong việc thực hiện quyền kết hôn cũng như ly hôn theo quy định của pháp luật.

Sự thể hiện nguyên tắc hôn nhân, tự nguyện, tiến bộ qua chế định kết hôn

1.1. Sự thể hiện nguyên tắc qua các thời kì của Luật hôn nhân và gia đình

Nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân đã được nhà nước ta thừa nhận là một nguyên tắc ngay từ những ngày đầu tiên thành lập nước. Điều này được thể hiện qua trong các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình trong các giai đoạn phát triển của đất nước, cụ thể:

Trong luật hôn nhân và gia đình năm 1959 – Bộ luật đầu tiên nguyên tắc này được ghi nhận tại những quy định chung

Điều 1

Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.

Điều 2

Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái.

Điều 3

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cấm lấy vợ lẽ.

Luật hôn nhân năm 1987 quy định như sau:

Điều 4

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ…cấm cưỡng ép ly hôn.

Đến Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nguyên tắc này được quy định cụ thể và rõ ràng hơn rất nhiều, cụ thể:

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

Khoản 2 Điều 4 quy định:

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.

Điều 9. Điều kiện kết hôn

Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

Thực tế tự nguyện trong hôn nhân được thể hiện ở những quyền sau:

Thứ nhất, quyền tự do, tự nguyện trong kết hôn, tức là nam và nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định được kết hôn và lập gia đình một cách tự do, tự nguyện mà không bị ép buộc, cản trở.

Thứ hai, khi đã kết hôn thì vợ chồng có quyền tự do, bình đẳng đến tất cả các vấn đề nảy sinh trong đời sống gia đình, ví dụ như việc lựa chọn nơi cư trú, tổ chức cuộc sống, giáo dục con cái, quản lý tài sản…

Thứ ba, tự nguyện trong hôn nhân là sự tự nguyện, tự do và bình đẳng trong việc giải quyết chấm dứt việc kết hôn: tức là không được có bất cứ sự phân biệt đối xử ép buộc đối với bất kỳ bên trong các vấn đề như cơ sở và các thủ tục ly hôn, việc trông nom, chu cấp, nuôi dưỡng, thăm nom con cái…

Ngoài các quy định trên thì nguyên tắc hôn nhân tự nguyện cũng được quy định rải rác trong các điều, khoản tại những văn bản quy phạm pháp luật khác.

1.2. Sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ qua chế định kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2014

Dưới chế độ phong kiến, cha mẹ quyết định việc hôn nhân của con cái, cưỡng ép hôn nhân cho nên tình yêu không thể là cơ sở của hôn nhân được. Giai cấp tư sản cũng tuyên bố tự do hôn nhân. Tuy vậy, hôn nhân chỉ tự do chừng nào nào nó được xây dựng trên cơ sở tình yeu chân chính giữa nam và nữ, nghĩa là không bị tính toán vật chất, địa vị xã hội chi phối. Cần phân biệt hôn nhân tự nguyện, tự do với “tự do yêu đương”, tự do yêu đương là thứ tự do bừa bãi, phóng đãng xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân dẫn đến tự do trốn tránh trách nhiệm trước gia đình và xã hội.

Dưới chủ nghãi xã hôi, khi đã xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa thì mới có điều kiện đảm bảo hôn nhân tự do thực sự, nghĩa là hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Điều 36 có quy định “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”. Nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân được Luật hôn nhân và gia đình 2014 cụ thể hóa ở một số điều luật.

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Đây là điều kiện được ghi nhận ở cả Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và LHVGĐ 2014. Điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” . Khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định: “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn”

Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau. Mỗi bên không chịu tác động của bên kia hay bất kì người nào khác khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Sự thể hiện ý chí phải thống nhất với ý chí. Sự tự nguyện kết hôn phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thảo mãn nhu cầu tình cảm của 2 người, đảm bảo cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn. Do đó, những người bị mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật cấm họ kết hôn. Đối với trường hợp nam nữ bị chấn động về thần kinh hoặc đang trong tình trạng say rượu, bia thì họ cũng tam thời không được đăng kí kết hôn cho đến khi hồi phục khả năng nhận biết và hoàn toàn tỉnh táo. Để đảm bảo kết hôn được hoàn toàn tự nguyện, Luật Hôn nhân và gia đình quy định cấm việc cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn hoặc cản trở việc kết hôn.

Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.Những người mất năng lực hành vi dân sự ( Điều 22 BLDS) là những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà Toà án đã ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Tuy nhiên, khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Trước Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định đây là trường hợp cấm kết hôn, còn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định đây là điều kiện kết hôn. Về bản chất thì không có sự thay đổi trong cách hiểu, tức là, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì những người không có năng lực hành vi dân sự thì bị cấm kết hôn, cò Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quy định “ không bị mất năng lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện để kết hôn. Như vậy, pháp luật không công nhận việc kết hôn của người mất năng lực hành vi dân sự. Việc quy định như vậy rất hợp lí bởi họ không thể hiện được ý chí một cách đúng đắn, chính vì vậy khó có thể đánh giá được chính xác sự tự nguyện khi tham gia vào quan hệ hôn nhân

Ngoài ra Luật Hôn nhân và gia đình 2014 còn quy định về các trường hợp cấm kết hôn như sau:

Điểm b Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Cấm các hành vi sau đây:

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

Cưỡng ép kết hôn

Là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ.

Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này

Như vậy, những hành này bị cấm là để đảm bảo nguyên tắc kết hôn giữa nam và nữ là hoàn toàn tự nguyện, họ tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng của bản thân chứ không phải là do có sự tác động, ép buộc từ phía người khác. Quy định như vậy cũng góp phần xóa bỏ chế độ hôn nhân phụ thuộc vào cha mẹ của gia đinh phong kiến “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã tồn tại từ rất lâu và xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng hạnh phúc.

Chỉ coi là có hành vi ép buộc kết hôn khi hành vi đó thể hiện tính chất quyết liệt, làm cho người bị ép buộc không còn có thể có cách lựa chọn nào khác nên phải chấp nhận kết hôn với người mà họ không mong muốn kết hôn. Hành vi ép buộc kết hôn trái với nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Vì vậy, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định trong việc kết hôn, không bên nào được ép buộc bên nào.

+ Cản trở kết hôn: Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thân, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn (Xem khoản 10 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Như vậy, ngược lại với cưỡng ép kết hôn, cản trở kết hôn chỉ có thể là hành vi của người thứ ba mà không phải là hành vi của chủ thể kết hôn bởi vì bản chất của việc cản trở kết hôn là không cho phép người kết hôn được xác lập quan hệ hôn nhân mặc dù họ có đủ điều kiện kết hôn. Ví dụ, mặc dù hai người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng bố mẹ của một trong hai bên đe dọa sẽ từ con nếu như hai người kết hôn với nhau hoặc cố tình thách cưới thật cao khi biết người kia không thể đáp ứng được yêu cầu về lễ vật mà buộc phải từ bỏ việc kết hôn...

+ Lừa dối kết hôn: Lừa dối kết hôn là việc một trong hai người kết hôn đã nói sai sự thật về người đó làm cho người kia lầm tưởng mà kết hôn. Có thể kể đến một số ví dụ về sự lừa dối kết hôn như: một người bị nhiễm HIV hoặc không có khả năng sinh con nhưng lại cố tình che dấu sự thật với bên kia hoặc một người đang có vợ, có chồng nhưng lại nói với bên kia mình là người chưa có vợ hoặc có chồng.

Ngoài các hành vi nói trên, việc kết hôn giả tạo cũng là hành vi bị cấm. Giả tạo kết hôn là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình (Xem khoản 11 Điểu 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Vì vậy, kết hôn giả tạo không phải là tự nguyện kết hôn. Bởi vì tự nguyện kết hôn phải nhằm mục đích xây dựng gia đình.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến hôn nhân gia đình, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê