1. Hiệp định thương mại tự do (FTA) là gì?

Hiện có nhiều cách hiểu về các Hiệp định thương mại tự do. Theo cách hiểu chung nhất thì một Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều Thành viên nhằm loại bỏ các rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các Thành viên với nhau.

FTA có thể mang nhiều tên gọi khác nhau, ví dụ Hiệp định Đối tác Kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại Khu vực (Regional Trade Agreement)… nhưng bản chất đều là các thỏa thuận hướng tới tự do hóa thương mại giữa các Thành viên.

Thành viên của các FTA có thể là các quốc gia (ví dụ Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ…) hoặc các khu vực thuế quan độc lập (ví dụ Liên minh châu Âu, Hong Kong Trung Quốc…). Vì vậy, thông thường khi nói tới Thành viên FTA, người ta hay dùng từ chung là “nền kinh tế”.

Các FTA có thể là song phương (02 Thành viên) hoặc đa phương/khu vực (nhiều hơn 02 Thành viên).
Phạm vi “thương mại” trong các FTA được hiểu theo nghĩa rộng, có thể bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh sinh lời, trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và cả các vấn đề khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương mại (sở hữu trí tuệ, mua sắm công, lao động, môi trường…).

 

2. FTA khác với WTO và các Hiệp định thương mại, đầu tư mà Việt Nam đã ký như thế nào?

Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ 1/2007. Việt Nam cũng có khoảng 80 Hiệp định thương mại, đầu tư song phương đang có hiệu lực với nhiều đối tác.

- WTO bao gồm rất nhiều các Hiệp định trong các lĩnh vực thương mại khác nhau (hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư…). Các Hiệp định này đều có nội dung hướng tới việc thống nhất các quy tắc cho thương mại toàn cầu và giảm bớt các rào cản thương mại. Tuy nhiên, WTO mới chỉ thành công trong việc giảm bớt mà chưa đạt được mức loại bỏ rào cản đối với phần lớn thương mại như trong các FTA. Do đó, không có hiệp định nào trong WTO là FTA cả.

Hầu hết các Hiệp định trong khuôn khổ WTO là kết quả của Vòng đàm phán Uruguay 1986 – 1994, ký kết tại Hội nghị Bộ trưởng Marrakesh tháng 4 năm 1994. Văn kiện cuối cùng là kết quả bao trùm Vòng đàm phán Uruguay về Thương mại đa biên. Đầu tiên phải kể tới Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mai Thế giới, hiệp định khái quát này bao gồm rất nhiều quy định được sắp xếp theo hệ thống nhất định. Các vấn đề cụ thể được nêu tại các phụ lục về hàng hóa, dịch vụ, và sở hữu trí tuệ; phụ lục về giải quyết tranh chấp, cơ cơ chế rà soát chính sách thương mại và phụ lục về các hiệp định nhiều bên.

Tuyên bố Marrakesh ngày 15 tháng 4 năm 1994

Văn kiện cuối cùng bao quát các Kết quả của Vòng Uruguay về Đàm phán Thương mại Đa biên

Hiệp định thành lập tổ chức thương mại thế giới:

Phụ lục 1:

Phụ lục 1A: Các Hiệp định Đa biên về Thương mại hàng hóa

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994; Hiệp định Nông nghiệp (Tóm tắt Hiệp định); Hiệp định về Áp dụng các Biện pháp Kiểm dịch Động thực vật (Tóm tắt Hiệp định); Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (Tóm tắt Hiệp định); Hiệp định về Xác định Trị giá tính thuế hải quan (Điều VII của GATT 1994) (Tóm tắt Hiệp định); Hiệp định về Giám định hàng hóa trước khi gửi hàng (PSI); Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ; Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu; Hiệp định về Chống bán phá giá (Điều VI của GATT 1994) (Tóm tắt Hiệp định); Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (Tóm tắt Hiệp định ); Hiệp định về các Biện pháp tự vệ (Tóm tắt Hiệp định); Hiệp định thuận lợi hóa thương mại; Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMs); Hiệp định về Hàng dệt may (Lưu ý: Hiệp định này đã hết hiệu lực từ ngày 01/01/2005)

Phụ lục 1B: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) (Tóm tắt Hiệp định)

Phụ lục 1C: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

Phụ lục 2: Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục Giải quyết Tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU)

Phụ lục 3: Hiệp định về Cơ chế Rà soát Chính sách thương mại

Phụ lục 4: Các Hiệp định thương mại nhiều bên

Phụ lục 4(A) Hiệp định về Thương mại Máy bay Dân dụng

Phụ lục 4(B) Hiệp định về Mua sắm Chính phủ

Phụ lục 4(C) Hiệp định quốc tế về sữa (Lưu ý: Hiệp định này đã chấm dứt năm 1997)

Phụ lục 4(D) Hiệp định quốc tế về thịt bò ( Lưu ý: Hiệp định này đã chấm dứt năm 1997)

- Các Hiệp định thương mại, đầu tư song phương mà Việt Nam đã ký kết đều là các cam kết nhằm tạo khung khổ chung cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với Đối tác. Hầu hết các Hiệp định này không bao gồm nội dung nào về mở cửa thương mại hay loại bỏ rào cản thương mại cụ thể như trong các FTA.

 

3. FTA khác gì với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)?

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập từ 12/2015 giữa 10 nước thành viên ASEAN (trong đó có Việt Nam) dựa trên nền tảng các thỏa thuận gắn kết về kinh tế đã có gần 50 năm tồn tại của ASEAN.

Mục tiêu hướng tới của AEC là xây dựng một thị trường thống nhất, một cơ sở sản xuất chung và các mục tiêu phát triển khác (cạnh tranh, sáng tạo, phát triển toàn diện…). Mục tiêu này rộng hơn nhiều so với mục tiêu thông thường (tự do hóa thương mại và các vấn đề khác phục vụ tự do hóa thương mại) của các FTA.

Về nội dung, AEC không phải là một Hiệp định mà là một tập hợp của nhiều Hiệp định, Thỏa thuận, Tuyên bố chính sách…mà các nước Thành viên đã từng thống nhất/ký trước đây trong khuôn khổ ASEAN cũng như sau này (sau khi AEC đã thành lập).

Trong số đó có những Hiệp định có tính chất là FTA (ví dụ Hiệp định thương mại hàng hóa – ATIGA, dỡ bỏ gần như toàn bộ thuế quan cho hàng hóa lưu chuyển trong ASEAN).

Tuy nhiên, bên cạnh đó, AEC còn có nhiều Thỏa thuận, Tuyên bố chỉ mang tính chất hợp tác, khuyến khích, thúc đẩy các hành động chung mà không phải cam kết ràng buộc, cũng không dỡ bỏ rào cản thương mại cụ thể như các FTA.

 

4. Có những loại FTA nào?

Không có tiêu chí thống nhất hay định nghĩa chính xác để phân loại các FTA. Trên thực tế, việc phân loại các FTA được thực hiện theo các tiêu chí thông dụng như số lượng thành viên, nội dung trong các FTA.

Theo tiêu chí số lượng và khu vực địa lý của các nền kinh tế thành viên thì có các loại FTA sau:

  • FTA song phương: là FTA giữa 2 đối tác, ví dụ FTA giữa Việt Nam với Chi lê (VCFTA), giữa Việt Nam với Nhật Bản (VJEPA)
  • FTA khu vực:

+ là FTA giữa nhiều đối tác trong cùng một khu vực, ví dụ Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN giữa 10 nước trong khu vực ASEAN (AFTA), HIệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) giữa 11 nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương; hoặc

+ là FTA trong đó có một bên đối tác là tổ chức tập hợp nhiều nền kinh tế, ví dụ các FTA giữa ASEAN với Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc... (còn gọi là ASEAN+)

Trong một số trường hợp, việc phân nhóm này không thật rõ ràng. Ví dụ, FTA giữa Liên minh Châu Âu (EU, bao gồm 27 nước thành viên) hoặc FTA giữa Liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU, bao gồm 05 nước thành viên) với Việt Nam có thể được coi là FTA khu vực, cũng có thể được xem là FTA song phương (tùy vào việc nhìn nhận EU hay EAEU là một khối thống nhất hay tập hợp nhiều nền kinh tế).

Theo tiêu chí về phạm vi và nội dung cam kết thì có các loại FTA sau:

  • FTA truyền thống: Là các FTA được đàm phán, ký kết trong giai đoạn đầu, thường có phạm vi hẹp, mức độ tự do hóa hạn chế.
  • FTA thế hệ mới: Là các FTA được đàm phán, ký kết trong thời gian gần đây, có phạm vi rộng, mức độ tự do hóa mạnh

- FTA truyền thống của Việt Nam

FTA truyền thống thường chỉ bao gồm các cam kết tự do hóa thương mại trong lĩnh vực thương mại hàng hóa (mà quan trọng nhất là xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 70-80% số dòng thuế). Một số ít có thêm các cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ (mở cửa thêm các dịch vụ so với mức mở cửa trong WTO) và các nguyên tắc chung về đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh… Tuy nhiên, những cam kết về các vấn đề này thường là chung chung, ít ràng buộc cụ thể ở mức cao.

Tất cả các FTA mà Việt Nam đã ký trước năm 2014 (bao gồm 06 FTA trong khuôn khổ ASEAN và 02 FTA song phương với Nhật Bản (VJEPA) và với Chile (VCFTA) đều là các FTA truyền thống, với nội dung chủ yếu là loại bỏ thuế quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các Thành viên.

- FTA thế hệ mới của Việt Nam

Các FTA thế hệ mới bao gồm các cam kết tự do hóa thương mại trong nhiều lĩnh vực (hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường…), trong đó mức độ cam kết mở cửa mạnh (ví dụ thường là xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 95-100% số dòng thuế, mở cửa mạnh nhiều lĩnh vực dịch vụ, mở cửa mua sắm công), đặt ra nhiều tiêu chuẩn cao trong các vấn đề quy tắc.

Việt Nam hiện đang thực thi 02 FTA thế hệ mới, bao gồm FTA song phương với Hàn Quốc (VKFTA) và FTA với khối Liên minh Á-Âu (EAEU). Mặc dù vậy, lĩnh vực “thế hệ mới” của các FTA chỉ được đề cập khá hạn chế, chủ yếu là các cam kết mang tính tuyên bố định hướng, không có các nội dung ràng buộc cụ thể.

Các FTA thế hệ mới thực sự mà Việt Nam đã từng đàm phán là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (TPP-CPTPP) và FTA với EU (EVFTA), hai FTA sắp có hiệu lực.

 

5. Việt Nam đã tham gia bao nhiêu FTA ?

Tính tới 1/7/2018, Việt Nam tham gia tổng cộng 16 FTA, trong đó:

- 10 FTA đang có hiệu lực

- 02 FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực

- 01 FTA đã hoàn tất đàm phán nhưng chưa ký

- 03 FTA đang trong quá trình đàm phán

Tổng số đối tác đang có FTA với Việt Nam là 21 (nền kinh tế). Khi tất cả 16 FTA này có hiệu lực với Việt Nam thì số đối tác mở cửa cho Việt Nam thông qua FTA sẽ là 57 (nền kinh tế).

Các FTA đầu tiên mà Việt Nam tham gia là FTA khu vực, với các đối tác trong khu vực ASEAN hoặc với các đối tác chung của ASEAN trong khu vực châu Á. Về nội dung, tất cả các FTA này đều là các FTA truyền thống, chủ yếu tập trung vào việc mở cửa thị trường hàng hóa.

Những FTA Việt Nam tham gia sau này phần lớn là các FTA song phương hoặc đa phương, với các đối tác xa hơn về địa lý (châu Âu, châu Mỹ). Về nội dung, đa số các FTA này là FTA thế hệ mới, bao trùm nhiều lĩnh vực, vấn đề cả thương mại và phi thương mại.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)