1. Khái niệm án lệ

Khái niệm án lệ được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau và không có khái niệm áp dụng chung cho tất cả các hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới và như nhau ở các thời kì lịch sử.

Trong tiếng Anh, án lệ là “ Precedent”, thuật ngữ này phát sinh từ hệ thống thông luật ( Common law) với hệ thống quan điểm lý luận pháp lý khác biệt hẳn với hệ thống dân luật ( Civil law). Vì vậy, án lệ sẽ không dễ dàng để được tiếp nhận đối với các luật gia, nhà nghiên cứu ở các nước thuộc hệ thống dân luật.

Theo từ điển Black’s Law- Từ điển Luật học của Mỹ thì án lệ được hiểu như sau: “Án lệ là việc làm luật của Tòa án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử bằng cách lấy vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này ”.

Án lệ của Cộng hòa Pháp là một hiện tượng khá phức tạp. Do hệ thống các cơ quan tài phán của Cộng hoà Pháp được chia thành ba hệ thống tách biệt nhau là: Hệ thống tài phán Hiến pháp, Hệ thống tài phán Hành chính và Hệ thống tài phán Tư pháp. Tương ứng với ba hệ thống tài phán này có ba loại án lệ khác nhau, tạm gọi là án lệ Hiến pháp, án lệ Hành chính và án lệ Tư pháp.Trong lĩnh vực án lệ tư pháp, theo nghĩa rộng, khái niệm án lệ bao gồm tất cả các bản án, quyết định của Tòa án được tuyên trên lãnh thổ nước Pháp. Theo nghĩa hẹp, án lệ chỉ quan điểm, cách thức Tòa án giải thích và áp dụng pháp luật cho những vấn đề pháp lý lặp đi lặp lại trong nhiều vụ việc tương tự.

Lịch sử chính là bức tranh phản ánh chân thực nhất sự phát triển của mọi lĩnh vực trong xã hội và trong lĩnh vực pháp luật cũng vậy. Đồng hành với những trang lịch sử thăng trầm của đất nước là lịch sử pháp luật Việt Nam. Ở thời đại phong kiến của nước ta, qua nhiều công trình nghiên cứu về án lệ các nhà nghiên cứu đã rút ra rằng hầu như không thấy từ “án lệ” nào được sử dụng trong suốt mấy nghìn năm lịch sử. Bước sang thời kỳ thực dân Pháp đặt ách đô hộ ở Việt Nam, từ năm 1858 đến năm 1945, án lệ chủ yếu được sử dụng trong đào tạo, giảng dạy luật tại miền Nam Việt Nam. Từ sau năm 1945 từ “án lệ” đã được sử dụng, nhưng cũng không có sự giải thích cụ thể nào về khái niệm này. Như ở Thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 442/TTG, ngày 19-1-1955 về việc trừng trị một số tội phạm có nội dung như sau: “….Tới nay, các Tòa án căn cứ vào những văn bản nói trên và chính sách trừng trị của Chính phủ mà xét xử đem lại kết quả tốt cho việc bảo vệ trật tự, an ninh. Kinh nghiệm xét xử về một số loại phạm pháp đã được trở thành án lệ.

Tuy nhiên án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương. Đường lối xét xử do đó không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng. Cần phải thống nhất những án lệ ấy trong quy định chung sau đây để hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội phạm thông thường….

Và Thông tư số 92-TC ngày 11-11-1959 của Bộ Tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao giải thích và quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của các Tòa án nhân dân phúc thẩm Hà Nội, Hải Phòng và Vinh, chỉ rõ: “ Tòa án nhân dân phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các Tòa án nhân dân cấp dưới thông qua án lệ của mình”. Tập san Tư pháp số 1 năm 1965 đã mở mục “ Bình luận án lệ”, tòa soạn đã có vài dòng mở đầu: “ Từ số này, Tập san Tư pháp sẽ mở thêm mục “Bình luận án lệ” để…”. Tuy nhiên, mục này chỉ thực hiện được 5 số, đến số 6 năm 1965 thì chỉ gọi là “ Bình luận án” mà không có sự giải thích nào từ tòa soạn.

Từ việc sử dụng khái niệm “ án lệ” nêu trên có thể thấy trước năm 1960, từ “ án lệ” đã tồn tại và được sử dụng trong các văn bản pháp luật chính thức, công khai trên các tạp chí chuyên ngành, đường lối xét xử của Tòa án về những vụ việc cùng loại được tập hợp, phân tích, bình luận. Tuy nhiên từ sau năm 1960, khái niệm “ án lệ” không thấy được sử dụng, thay vào đó thuật ngữ “ luật lệ” được sử dụng nhiều như sách Luật lệ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Viện kiểm sát nhân dân tối cao xuất bản, sách Tập luật lệ tư pháp của Bộ Tư pháp... Từ sau năm 1975 đến trước năm 2006 thì khái niệm án lệ hầu như không được sử dụng chính thức.

Bước sang năm 2006, khái niệm án lệ lại tiếp tục được sử dụng tại Nghị quyết số: 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị như sau: “ Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và xét xử Giám đốc thẩm, Tái thẩm ”. Năm 2014 Luật tổ chức Tòa án nhân dân chính thức được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2015 với Khoản 5 Điều 27 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có việc: “ Chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng và ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; tổng kết phát triển án lệ, công bố án lệ”. Dựa trên những nhiệm vụ được đề ra ở trên , ngày 28 tháng 10 năm 2015 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã ra Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, tại Điều 1 của Nghị quyết khái niệm “ án lệ” đã được công nhận như sau : “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.

>> Xem thêm:  Chuyên viên tư vấn Đỗ Văn Khánh - Phòng Hỗ trợ khách hàng Công ty Luật TNHH Minh Khuê

Như vậy, lần đầu tiên pháp luật nước ta thừa nhận một hình thức pháp luật hoàn toàn mới đó chính là án lệ. Nó chính là cơ sở để các Tòa án cấp dưới nghiên cứu, tham khảo tính đúng đắn về chuyên môn, nghiệp vụ trong các bản án, các quyết định đã có hiệu lực và đưa ra quyết định đối với vụ án cụ thể, có nội dung tương tự của mình, giúp cho việc áp dụng pháp luật thuận lợi hơn và đảm bảo tính công bằng đối với các vụ án có tình tiết giống nhau sẽ được xét xử giống nhau. Việc áp dụng án lệ sẽ góp phần công khai và phổ biến rộng rãi các bản án và quyết định của Tòa án các cấp để mọi người cùng biết, tham khảo và đánh giá chất lượng phán quyết của Tòa án. Trong lĩnh vực Kinh doanh thương mại, sự xuất hiện của các bản án lệ sẽ giúp các bên lưu tâm hơn khi soạn thảo hợp đồng, khi tham gia đàm phán cũng như phán đoán trước được kết quả của các vụ tranh chấp tương tự xuất hiện trong án lệ.

2. Đặc điểm của án lệ

Do có nhiều cách định nghĩa khác nhau nên “án lệ” ở các quốc gia khác nhau sẽ có những đặc điểm riêng biệt. Nếu dựa trên cách định nghĩa của từ điển Luật học Black’s Law của Mỹ về án lệ, ta có thể thấy án lệ có một số đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, án lệ do Tòa án tạo ra trong qua trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn được gọi là luật được hình thành từ vụ việc (case law) hay luật do thẩm phán ban hành (judge make law). Trong khi đó, nguồn Luật văn bản của Mỹ chủ yếu được tạo ra bằng con đường Quốc hội ban hành. Những lập luận cho việc lý giải tại sao lại trao thẩm quyền làm luật cho Tòa án hay Quốc hội đều có những lý lẽ hợp lý riêng. Các luật gia của hệ thống dân luật cho rằng, pháp luật không nên tạo ra từ các phán quyết của các Thẩm phán bởi họ không đủ thời gian để đưa ra các quy định chung mang tính công minh. Các quy phạm pháp luật phải là sản phẩm của tư duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, đạo đức chứ không phải là các quyết định nhất thời của các Thẩm phán nên theo ý kiến của họ, pháp luật cần được tạo ra bằng trí tuệ tập thể, phải có sự thận trọng và công việc này thích hợp giao cho Quốc hội. Như vậy, vai trò của Tòa án ở các quốc gia này chỉ là người áp dụng pháp luật chứ không phải là người sáng tạo pháp luật. Trong khi đó, các luật gia của hệ thống thông luật cho rằng luật được tạo ra bằng con đường Quốc hội sẽ không mang tính thức tiễn cao, khó thay đổi, mang tính khái quát cao và trừu tượng.

Thứ hai, án lệ được hình thành phải mang tính mới. Nghĩa là, đây phải là các quy tắc chưa có trước đó. Một số người nghĩ rằng, vì án lệ được tạo ra bằng con đường Tòa án thông qua các vụ việc nên sẽ rất nhiều và mang tính hỗn độn. Thật ra, không phải khi Tòa án xét xử bất kỳ vụ việc nào cũng đều tạo ra án lệ. Thông thường, khi có một việc tranh chấp tại Tòa thì các Thẩm phán cũng như các Luật sư sẽ quan tâm đến hai vấn đề: Vấn đề sự kiện (question of fact) và Vấn đề pháp lý (question of law). Đối với các vụ việc đơn thuần chỉ liên quan đến việc xác định tính chất pháp lý của sự kiện (question of fact) và đã có quy định trong văn bản pháp luật hay tiền lệ trước đó để áp dụng, Tòa án sẽ không tạo ra án lệ khi giải quyết các vụ việc này. Trong khi đó, có rất ít các vụ việc liên quan đến vấn đề pháp lý (question of law) cần giải quyết bằng pháp luật mà chưa có quy tắc tiền lệ trong thực tế. Khi gặp trường hợp này, Tòa án mới tạo ra án lệ để giải quyết và áp dụng cho các vụ việc tương tự sau đó.

Thứ ba, kỹ thuật xây dựng và vận hành là dựa vào yếu tố tương tự. Xuất phát từ tư tưởng công bằng của nhà triết học Aristote là “Các trường hợp giống nhau phải được xử lý như nhau” ( Like cases must be decided alike), các luật gia thông luật sử dụng triệt để cách thức này để xây dựng và áp dụng án lệ. Kỹ thuật tư duy đặc thù của thông luật tạo ra án lệ không phải là diễn dịch cũng không phải là quy nạp mà là suy luận tương tự (analogical thinking), có nghĩa là lấy tính giống nhau, cái tương tự nhau làm tiêu chuẩn. Trong án lệ cso một quy tắc gọi là “ratio decidendi” (tuân theo quy tắc pháp lý trong phần luận cứ chính được đưa ra trong bản án trước) quy tắc này được hình thành dựa trên ba yếu tố: Các tình tiết của vụ việc ( facts); Lý lẽ hay lập luận ( reason); Quyết định của tòa án (decision). Khi tòa án giải quyết vụ việc đầu tiên chỉ tạo ra hình mẫu hay phác thảo nên một quy tắc chứ chưa phải là một quy tắc hoàn hảo. Một quy tắc hay nguyên tắc án lệ được hình thành phải trải qua hàng loạt các vụ việc tương tự về sau. Các thẩm phán sau này khi giải quyết một vụ việc cần phải xác định và đánh giá lý lẽ tương tự, nếu vụ việc này tương tự thì sẽ áp dụng lý lẽ trong bản án trước để giải quyết vụ việc hiện tại, nếu không tương tự thì không áp dụng.

Từ khái niệm “án lệ” được nêu ra tại Nghị quyết số 03/2015/ NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, theo ý kiến cá nhân, em thấy “án lệ” Việt Nam có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, nó phải là những “ lập luận”, “ phán quyết trong bản án”, “quyết định đã có hiệu lực pháp luật” về một vụ việc cụ thể mà trước đó đã được giải quyết, đáp ứng được các tiêu chí sau :

“1. Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể;

2. Có tính chuẩn mực;

>> Xem thêm:  Áp dụng án lệ: Càng chậm chễ - Càng tụt hậu

3. Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.”

(Điều 2 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP)

Nhắc tới án lệ là nhắc tới những lập luận, quyết định chứa đựng cách thức chung, quan điểm chung, được Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vấn đề pháp luật trong một vụ án và được áp dụng lặp đi lặp lại trong nhiều vụ án tương tự sau đó. Nội dung này thường thể hiện tại quan điểm pháp lý trong phần “xét thấy” của các quyết định giám đốc thẩm được lựa chọn. Nhìn vào các bản án lệ của nước ta, có thể thấy rõ đặc điểm này ở ngay phần đầu bản án lệ với tiêu đề “ Nguồn án lệ” và “ Vị trí nội dung án lệ”.

Thứ hai, nó phải được “Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao lựa chọn”. Trước đây khi chưa có án lệ, hàng năm Tòa án nhân dân tối cao đều tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn công tác xét xử. Từ các văn bản tổng kết hướng dẫn nghiệp vụ xét xử Tòa án nhân dân tối cao có thể kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong công tác chuyên môn của Tòa án cấp dưới. Văn bản này có thể là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao đã xúc tiến việc chọn lọc xuất bản dưới dạng “Sách chuyên khảo”; “Tạp chí Tòa án nhân dân tối cao” đối với rất nhiều quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong mọi lĩnh vực từ Hình sự, Dân sự, Lao động đến Kinh doanh thương mại,…phục vụ cho xét xử của các Tòa án cấp dưới, nghiên cứu khoa học của các chuyên gia và cho đông đảo người dân biết, vận dụng hoặc tham khảo. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào khẳng định rằng đây được coi là án lệ. Mặc dù vậy, rất nhiều Thẩm phán khi xét xử vẫn dựa trên các quyết định này để xét xử những vụ án tương tự, có lẽ các vị thẩm phán này đã ngầm định những quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là khuôn mẫu để giải quyết các tranh chấp tại Tòa án mình.

Nay, khi án lệ đã thực sự được ghi nhận trong hệ thống pháp luật nước ta, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sẽ có trọng trách đó là thảo luận và biểu quyết thông qua các án lệ trên cơ sở báo cáo của Hội đồng tư vấn án lệ. Để có được báo cáo này, trước hết cần có sự đóng góp ý kiến từ các Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương, họ sẽ tổ chức hoạt động tổng kết thực tiễn xét xử để đề xuất những vấn đề cần hướng dẫn; căn cứ vào các tiêu chí hướng dẫn đã có tại Điều 2 của Nghị quyết số 03/2015/ NQ- HĐTP tổ chức rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án mình, các Tòa án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ và đề nghị Ủy ban Thẩm phán cùng cấp xem xét, đánh giá. Nếu đáp ứng đủ các điều kiện các Chánh án của các Tòa sẽ gửi báo cáo tới Toà án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học), trong đó ghi rõ đánh giá thực tiễn xét xử và pháp luật liên quan đến đề xuất lựa chọn án lệ; nêu rõ bản án, quyết định có chứa đựng nội dung được đề xuất, lựa chọn phát triển thành án lệ; ý kiến đánh giá của các Uỷ ban Thẩm phán cấp tương đương. Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học sẽ nhận các báo cáo, đề xuất rồi tổng hợp, công khai lấy ý kiến đóng góp, tập hợp lại và báo cáo lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ. Hội đồng tư vấn án lệ tổ chức phiên họp để thảo luận về các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn làm án lệ, báo cáo Chánh án Toà án nhân dân tối cao kết quả phiên họp. Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để thảo luận và biểu quyết thông qua án lệ. Như vậy để thông qua một bản án lệ phải trải qua rất nhiều công đoạn và sự quyết định quan trọng nhất thuộc về Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, khẳng định vai trò to lớn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng như nâng tầm quan trọng của tòa án lên một bậc trong lĩnh vực tư pháp.

Thứ ba, là “án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử ” giá trị án lệ phải là cơ sở cho Tòa án cấp dưới vận dụng khi xét xử một vụ án tương tự. Cũng dựa trên tư tưởng công bằng của nhà triết học Aristote là “Các trường hợp giống nhau phải được xử lý như nhau”. Khi xét xử, các Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau. Tính tương tự ở đây được hiểu là tương tự nhau về tình tiết, sự kiện cơ bản và tương tự về vấn đề pháp lý. Nhưng khi áp dụng án lệ trong bản án, thẩm phán phải chỉ rõ tính chất, tình tiết vụ việc mình đang giải quyết tương tự với tính chất, tình tiết vụ việc trong án lệ. Nếu thẩm phán áp dụng án lệ thì phải viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của tòa án. Thẩm phán sẽ không bị bắt buộc phải áp dụng án lệ nhưng sẽ có hai lựa chọn: Nếu không áp dụng thì thẩm phán phải chứng minh tình tiết trong vụ việc khác với tình tiết trong án lệ. Nếu thẩm phán không chứng minh được mà vẫn không chịu áp dụng án lệ thì bản án đó sẽ bị hủy. Nếu vụ việc đang giải quyết giống án lệ nhưng chứng minh được án lệ sai thì bản án đó có thể được công nhận là án lệ để thay thế cho án lệ cũ. Bởi án lệ có thể không sai vào thời điểm được lựa chọn nhưng theo thời gian, có thể án lệ sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của pháp luật.

3. Án lệ Việt Nam và án lệ thuộc hệ thống pháp luật Common Law.

Tiêu chí

Việt Nam

Các nước thuộc hệ thống Common law

Nguồn luật chủ yếu

Luật thành văn.

(Luật được hình thành từ các chế định cụ thể)

Án lệ.

(Luật được hình thành từ các vụ việc)

Vai trò của án lệ

Án lệ không được xem là nguồn luật cơ bản, bởi lẽ án lệ được đưa ra nhằm làm rõ các quy định pháp luật có cách hiểu khác nhau.

=> Tòa án có trách nhiệm lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, còn việc làm luật thuộc về trách nhiệm của Quốc hội.

Án lệ được xem là nguồn luật cơ bản và bắt buộc áp dụng trong xét xử.

=> Tòa án, đặc biệt là Thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc làm luật và hoạch định chính sách.

Tính bắt buộc
áp dụng

Không bắt buộc áp dụng trong mọi vụ án xét xử. Chỉ những vụ án có các tình tiết chưa được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật hoặc đã có quy định nhưng quy định này được hiểu theo nhiều cách khác nhau mới phải áp dụng.

Không bắt buộc áp dụng trong mọi vụ án xét xử. Nếu Thẩm phán cho rằng, cách giải quyết trong án lệ là công bằng đúng đắn, họ sẽ tuân thủ và áp dụng án lệ đó; nếu Thẩm phán không cho là vậy họ sẽ có hai hướng giải quyết như sau:

- Chỉ áp dụng án lệ đối với một số sự kiện trong vụ án đang xét xử.

- Một số trường hợp Thẩm phán thấy án lệ không còn phù hợp, không đảm bảo lẽ công bằng, họ sẽ bác bỏ và đưa ra phán quyết khác với án lệ trước đó.

Tiêu chí lựa chọn án lệ

Để được lựa chọn là án lệ, Tòa án cần phải cân nhắc các bản án đã được xét xử đáp ứng đủ các tiêu chí sau:

- Chứa đựng lập luận làm rõ quy định pháp luật có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong vụ việc cụ thể.

- Có tính chuẩn mực.

- Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.

Không phải tòa án xét xử bất kỳ vụ việc nào cũng đều tạo ra án lệ. Thông thường, trong một vụ việc sẽ có 02 vấn đề là vấn đề sự kiện và vấn đề pháp lý. Trong đó, vấn đề pháp lý, nếu chưa có quy định từ trước thì vụ việc này được xét xử và sau đó được công nhận là án lệ.

Vụ việc xét xử được xem là án lệ khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau:

- Tính mới,nghĩa là trước đó, chưa có một luật nào quy định về vấn đề này nhưng tòa vẫn phải xử để đảm bảo công lý.

- Chứa đựng các nội dung về tình tiết của vụ việc, lý lẽ và lập luận và đáp ứng nguyên tắc tiền lệ.

Các nội dung án lệ bắt buộc phải có

- Tên của án lệ và năm ban hành án lệ.

- Tên vụ việc được tòa án giải quyết.

- Nguồn án lệ: Số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ.

- Khái quát nội dung án lệ.

- Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ.

- Từ khoá về những vấn đề pháp lý được giải quyết trong án lệ.

- Các tình tiết trong vụ án và phán quyết của Toà án có liên quan đến án lệ.

- Vấn đề pháp lý có giá trị hướng dẫn xét xử được giải quyết trong án lệ.

- Tên của vụ án.

- Năm Tòa án ra phán quyết đối với vụ án.

- Số tập văn bản của văn bản ghi chép án lệ.

- Tên viết tắt của văn bản ghi chép.

- Số thứ tự trang đầu tiên của văn bản ghi chép.

- Các tình tiết của vụ việc.

- Lý lẽ hay lập luận.

- Quyết định của Tòa án.

Ví dụ: Án lệ Sharif v Azad [1967] 1QB. 605 (CA)

Là vụ án án mạng tên Sharif kiện Azad, quyết định đưa ra và xuất bản vào năm 1967, tập 1 do Tòa phúc thẩm quyết định sau khi xem xét kháng cáo từ tòa cấp dưới – Tòa nữ hoàng (QB) và được ghi chép vào tập văn bản, bắt đầu từ trang 605.

Quy trình lựa chọn và công bố

Bước 1: Rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ.

Bước 2: Lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ.

Thời gian lấy ý kiến: 02 tháng.

Trong 01 tháng kể từ ngày hết thời hạn lấy ý kiến, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với các đơn vị chức năng tập hợp các ý kiến góp ý, nghiên cứu đánh giá và báo cáo Chánh án xem xét quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ.

Bước 3: Hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị tư vấn, Chủ tịch Hội đồng phải cho ý kiến quyết định đề xuất lựa chọn án lệ gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân.

Bước 4: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết thông qua án lệ.

Bước 1: Tòa án có thẩm quyền ban hành án lệ xem xét các bản án của tòa án cấp dưới, đáp ứng các tiêu chí lựa chọn làm án lệ.

Bước 2: Công bố rộng rãi án lệ trên phương tiện thông tin đại chúng.

Bước 3: Ghi chép án lệ vào Tuyển tập án lệ.

Công bố án lệ

Án lệ được đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Toà án và được đưa vào Tuyển tập án lệ xuất bản theo định kỳ 12 tháng.

Áp dụng thường xuyên, liên tục và rộng rãi bằng nhiều phương tiện thông tin đại chúng.

Hiệu lực áp dụng

Sau 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc được ghi trong quyết định công bố án lệ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

Có hiệu lực ngay khi được công bố.

Nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử

- Giải quyết các vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự nhau, đảm bảo các vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự nhau phải được giải quyết như nhau.

- Trường hợp áp dụng án lệ, phải viện dẫn số bản án, quyết định được công nhận án lệ.

- Nếu có sự thay đổi Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp thì Thẩm phán, Hội thẩm không áp dụng án lệ.

- Nếu do chuyển biến tình hình mà án lệ không phù hợp thì không áp dụng án lệ mà phải kiến nghị với Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, hủy bỏ.

=> Án lệ càng mới thì giá trị áp dụng càng cao.

- Tôn trọng nguyên tắc tối cao của Tòa án.

- Án lệ phải linh hoạt, mềm dẻo…

=> Án lệ được ban hành tồn tại càng lâu thì càng có giá trị áp dụng cao.

Hủy bỏ, thay thế án lệ

Có 02 trường hợp hủy bỏ, thay thế án lệ:

- Khi có sự thay đổi về Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh, Nghị định.

- Do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp.

Các trường hợp hủy bỏ, thay thế án lệ:

- Bảo vệ công lý hoặc phán quyết sai.

- Trong một số trường hợp đặc biệt…

4. Quy định của pháp luật về án lệ

Bộ luật dân sự 2015 nằm tại Điều 6 như sau:

“1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

>> Xem thêm:  Tìm hiểu thêm về án lệ

2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.”

Quy định về án lệ trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tại Khoản 3 Điều 45:

“Việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng được thực hiện như sau:

Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.

Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.

Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải, được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.”

- Khoản 2 Điều 264: Nghị án:

Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.”

- Điểm b Khoản 2 Điều 266

“Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và giải quyết các vấn đề khác có liên quan.”

- Và Khoản 4 Điều 313:

“Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật mà Tòa án áp dụng, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên quan.”

Trong Luật tố tụng Hành chính 2015: Tại Khoản 3 Điều 191:

“Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính (nếu có) liên quan để quyết định về các vấn đề sau đây:

a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;

b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;

c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

d) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan;

đ) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu có);

e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có).”

- Điểm b Khoản 2 Điều 194:

Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, khởi kiện của cơ quan, tổ chức; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng, các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) mà Tòa án áp dụng để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và giải quyết các vấn đề khác có liên quan;

- Và Khoản 4 Điều 242:

“ Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị.

Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng, các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) mà Tòa án áp dụng để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên quan.”

5. Giải pháp bảo đảm triển khai áp dụng án lệ

Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn triển khai và áp dụng án lệ, em xin phép đưa ra một số kiến nghị và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo việc triển khai áp dụng án lệ được thuận lợi nhất.

Thứ nhất, chúng ta cần phải hoàn thiện các chế định về cách thức xây dựng, áp dụng, hủy bỏ và thay thế án lệ. Cụ thể cần bổ sung vào Khoản 3 Điều 8 nghị quyết số 03/2015/NQ- HĐTP nội dung trường hợp do có sự thay đổi của các Thông tư, Thông tư liên tịch mà dẫn đến án lệ không còn phù hợp thì án lệ đó cũng đương nhiên bị hủy bỏ. Cần bổ sung vào Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về cách thức viện dẫn án lệ trong xét xử. Theo đó, Thẩm phán phải nêu được các tình tiết của vụ án mình đang xét xử tương tự với các tình tiết trong án lệ hay không, nếu có thì phải viện dẫn nội dung án lệ như thế nào. Cuối cùng cần bổ sung thêm vào Điều 9 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP theo hướng quy định cụ thể thời hạn mà Vụ Phap chế và Quản lý khoa học nghiên cứu đề xuất việc hủy bỏ thay thế án lệ.

Thứ hai, cần nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Tòa án tạo nguồn phát triển án lệ. Trên cơ sở phân tích đánh giá các chứng cứ Tòa án phải thể hiện rõ quan điểm, lập luận của mình, bảo đảm những lập luận, phán quyết của tòa trong bản án, quyết định được ban hành có giá trị vận dụng vào giải quyết những vụ việc tương tự khác.

Thứ ba, cần phải tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tham mưu cho Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong công tác xây dựng và phát triển án lệ. Tiếp tục nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm của các nước khác về án lệ và viện dẫn án lệ để học tập những mặt tích cực, phù hợp với thực tiễn và truyền thống pháp lý của Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng án lệ trong xét xử.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác truyền thông về án lệ. Thường xuyên cập nhật thông tin, tuyên truyền, phổ biến về án lệ, phát hành rộng rãi Tuyển tập án lệ trong nhân dân. Tiếp tục hoàn thiện chuyên trang thông tin về án lệ của Tòa án nhân dân tối cao, sao cho khi người dân cần tra cứu chỉ cần mở các trang thông tin của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, sẽ có đầy đủ các thông tin về các bản án, quyết định của tòa án được đề xuất lựa chọn, phát triển làm án lệ, các bản án lệ đã được công bố, thay thế, hủy bỏ, các bản án, quyết định của Tòa án có viện dẫn án lệ trong xét xử, những bài viết, ý kiến đóng góp của các chuyên gia nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước về án lệ nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác phát triển án lệ, đồng thời tạo ra sự thuận lợi cho người dân trong việc tra cứu án lệ.

Với việc phổ biến án lệ liên quan tới kinh doanh thương mại nói riêng, cần chú ý đến việc cập nhật những án lệ thương mại của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đến các thẩm phán. Điều này hoàn toàn hợp lý, vì những vụ tranh chấp thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế mà Việt Nam đang gặp phải thì các nước phát triển cũng đã từng trải qua. Những kinh nghiệm như vậy cực kỳ quý giá, giúp các thẩm phán đỡ phải lúng túng mà bản thân các doanh nhân cũng có thể trù liệu những vấn đề thường gặp để hạn chế rủi ro mắc phải.

Thứ năm, cần nâng cao chất lượng của các Thẩm phán. Kiến thức về luật chuyên ngành của đội ngũ thẩm phán nước ta hiện nay – ngay cả ở cấp độ Tòa án nhân dân tối cao, vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi của công việc, nhất là đối với án lệ còn nhiều thẩm phán còn chưa nắm rõ được cách thức áp dụng. Vì vậy cần thường xuyên tổ chức các buổi nghiên cứu trao đổi, thảo luận về án lệ ở tất cả các cấp Tòa án, tiến hành bồi dưỡng về cách thức tra cứu án lệ và cách thức áp dụng án lệ khi giải quyết một vụ việc.

Việc tăng cường hiểu biết về án lệ đối với các Kiểm sát viên và Luật sư cũng là một việc rất cần thiết. Các cơ quan, tổ chức nên thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, hoặc tập huấn định kì về án lệ cho các Kiểm sát viên và các Luật sư để khi họ tham gia trong các vụ án cụ thể có liên quan tới án lệ họ có thể chỉ ra sự tồn tại của án lệ trong vụ án đó, đồng thời thảo luận tích cực về án lệ cả ý kiến thuận và ý kiến nghịch từ đó giúp cho Thẩm phán xem xét việc có áp dụng án lệ vào giải quyết vụ án hay không.

Đối với các trường Đại học đang đào tạo ngành luật, trường cán bộ tòa án, học viện tư pháp… là những cái nôi đào tạo ra các Luật sư, các Thẩm phán tương lai, phải luôn cập nhật các bản án lệ một cách kịp thời. Đưa án lệ vào công tác giảng dạy để người học có thể tiếp cận với án lệ một cách nhanh nhất, biết cách phân tích án lệ, áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp tương tự với các tranh chấp đã được đề cập trong án lệ, hoặc cao hơn nữa là họ có thể hiểu tường tận các vấn đề liên quan đến án lệ và trở thành những nhà nghiên cứu, đề xuất án lệ cho Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong tương lai.

Giải pháp bảo đảm triển khai áp dụng án lệ