1. Khái niệm giải thể pháp nhân

Pháp nhân là một tổ chức (một chủ thể pháp luật) có tư cách pháp lý độc lập, có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội… theo quy định của pháp luật. Đây là một khái niệm trong luật học dùng để phân biệt với thể nhân (cá nhân). Nếu một tổ chức có “tư cách pháp nhân” thì tổ chức đó có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân mà luật đã quy định.

Ví dụ về pháp nhân: Các cơ quan nhà nước (như Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban nhân dân các cấp, Tòa án, các trường đại học,…) là những tổ chức có tư cách pháp nhân.

2. Điều kiện để có tư cách pháp nhân

Theo điều 94 Bộ luật Dân sự, một tổ chức được công nhận là có tư cách pháp nhân khi hội đủ 4 điều kiện sau đây:

Tổ chức đó được thành lập hợp pháp (theo quy định của pháp luật Việt Nam): Theo như định nghĩa thì rõ ràng pháp nhân không phải là một người (một cá nhân) mà phải là một tổ chức. Tổ chức này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập. Vì thế tổ chức đó được công nhận là có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập.

Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: Ngoài tên riêng được đăng ký để gọi và sử dụng trong các giao dịch, pháp nhân phải có điều lệ hoạt động rõ ràng, có cơ cấu tổ chức cụ thể, có người đại diện theo pháp luật để nhân danh (thay mặt, đại diện) cho pháp nhân thực hiện các giao dịch.

Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập đó: Theo quy định của pháp luật thì pháp nhân phải sở hữu một lượng tài sản nhất định để sử dụng trong các giao dịch và hoàn toàn chịu trách nhiệm với các tài sản đó. Tài sản này được pháp luật công nhận thuộc quyền sở hữu của pháp nhân, tức là pháp nhân có toàn quyền sử dụng mà không chịu sự chi phối, kiểm soát của bất kỳ ai. Tài sản đó phải hoàn toàn tách biệt với tài sản của các cá nhân là thành viên nên các thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào tổ chức.

Nhân danh mình tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập: Pháp nhân có quyền nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua người đại diện theo pháp luật. Người này là một cá nhân có quyền thực hiện mọi giao dịch dân sự phát sinh trong quá trình hoạt động. Tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trước tòa án, trọng tài và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật bị bắt giam, bị bỏ tù, bị chết hoặc không còn đủ khả năng đại diện nữa thì pháp nhân đó có quyền bầu ra người đại diện theo pháp luật mới để tiếp tục hoạt động (có nghĩa là pháp nhân không bị phụ thuộc vào bất cứ một cá nhân nào).

3. Khái niệm giải thể pháp nhân

Giải thể pháp nhân là chấm dứt sự tồn tại pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật.

Các căn cứ giải thể pháp nhân được quy định tại Điều 93 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS). Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập pháp nhân thì có thẩm quyền quyết định giải thể pháp nhân đó. Khi giải thể, pháp nhân phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài sản của mình.

4. Các trường hợp pháp nhân giải thể

Pháp nhân có thể bị giải thể trong các trường hợp sau:

1) Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

2) Theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của pháp nhân đã được điều lệ của pháp nhân quy định;

3) Hết thời hạn hoạt động được ghi trong điều lệ hoặc trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thành lập pháp nhân.

Trước khi giải thể, pháp nhân phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuẩn y.

5. Thanh toán tài sản của pháp nhân giải thể

Thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015

Điều 94. Thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể

1. Tài sản của pháp nhân bị giải thể được thanh toán theo thứ tự sau đây.

a) Chi phí giải thể pháp nhân;

b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

c) Nợ thuế và các khoản nợ khác.

2. Sau khi đã thanh toán hết chi phí giải thể pháp nhân và các khoản nợ, phần còn lại thuộc về chủ sở hữu pháp nhân, các thành viên góp vốn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc pháp luật có quy định khác.

3.Trường hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện đã thanh toán hết chi phí giải thể và các khoản nợ quy định tại khoản 1 Điều này, tài sản còn lại được chuyển giao cho quỹ khác có cùng mục đích hoạt động.

Trường hợp không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tài sản chuyển giao hoặc quỹ bị giải thể do hoạt động vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì tài sản của quỹ bị giải thể thuộc về Nhà nước.

Khi giải thể, pháp nhân phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản, cụ thể là nghĩa vụ thanh toán tài sản đối với các chủ thể khác. Pháp nhân thực hiện việc thanh toán tài sản theo thứ tự sau:

– Chi phí giải thể pháp nhân: Khi pháp nhân giải thể thì cần phải thanh toán các khoản chi phí liên quan đến việc làm, thủ tục giải thể hoặc tiền thuê tư vấn pháp lý về giải thể và giải quyết hậu quả của việc giải thể…

– Các khoản chi phí cho người lao động: cụ thể là thanh toán các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động theo quy định của pháp luật và các quyền lợi của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.

– Thanh toán khoản nợ thuế và các khoản nợ khác. Các khoản nợ này có thể là khoản nợ mà pháp nhân đã nợ cá nhân, pháp nhân khác trong quá trình hoạt động của mình.

Theo thứ tự này được hiểu sau khi thực hiện chi phí giải thể pháp nhân, tài sản còn lại ưu tiên thanh toán cho người lao động và sau đó mới dùng để thanh toán các khoản nợ thuế và các khoản nợ khác của pháp nhân. Điều này hướng đến ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích pháp của người lao động trước lợi ích của Nhà nước và các chủ thể khác.

Về nguyên tắc, sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ thanh toán từ tài sản, phần tài sản còn lại sẽ thuộc sở hữu của chủ sở hữu pháp nhân, các thành viên góp vốn. Thông thường, với số tài sản còn lại, pháp nhân căn cứ vào tỉ lệ đóng góp của các thành viên và chia số tài sản đó cho các thành viên góp vốn theo tỉ lệ đã xác định.

Đối với các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ về tài sản thì tài sản còn lại được chuyển giao cho quỹ khác cùng mục đích hoạt động. Sở dĩ, đối với các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tài sản còn lại của quỹ sau khi giải thể không được chia cho các thành viên vì điều này phụ thuộc vào mục đích và tôn chỉ hoạt động của quỹ. Quỹ xã hội, quỹ từ thiện hoạt động vì lợi ích chung của xã hội, vì lợi ích của những người nghèo khổ trong cuộc sống. Do đó, việc chuyển quỹ cho các quỹ khác cùng mục đích hoạt động để tiếp tục sử dụng số tiền đó cho vì lợi ích chung của xã hội là hoàn toàn hợp lý. Hơn thế nữa, quy định này nhằm ngăn ngừa các quỹ xã hội, quỹ từ thiện thành lập với mục đích vì cộng đồng xã hội nhưng lại nhằm tư lợi cho chính các thành viên trong quỹ. Trong trường hợp không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tài sản chuyển giao hoặc quỹ bị giải thể do hoạt động vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì tài sản của quỹ bị giải thể thuộc về Nhà nước.

6. Trình tự thanh lý tài sản của pháp nhân giải thể

Bước 1: Đề nghị thanh lý tài sản

Căn cứ kết quả kiểm kê tài sản, quá trình theo dõi sử dụng, bộ phận quản lý tài sản sẽ làm đề nghị thanh lý tài sản gửi người có thẩm quyền (giám đốc công ty, giám đốc chi nhánh).

Đặc biệt, với những doanh nghiệp có vốn Nhà nước, cần tham khảo ý kiến chủ sở hữu thông qua đại diện tại doanh nghiệp; nếu là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, ý kiến thanh lý tài sản phải là của cơ quan được giao quản lý vốn Nhà nước: Bộ Tài chính; UBND tỉnh dưới hình thức bằng văn bản.

Bước 2: Quyết định thanh lý tài sản

Người có thẩm quyền sẽ ra quyết định thanh lý tài sản cố định.

Bước 3: Thành lập Hội đồng thanh lý tài sản

Thành phần Hội đồng thanh lý tài sản của đơn vị thường sẽ bao gồm (nhưng không bắt buộc):

  • Người đứng đầu đơn vị (giám đốc): Chủ tịch Hội đồng;
  • Kế toán trưởng, kế toán tài sản;
  • Trưởng (hoặc phó) bộ phận phụ trách quản lý tài sản;
  • Nhân viên có hiểu biết về đặc điểm, tính năng kỹ thuật của tài sản thanh lý.

Bước 4: Tiến hành định giá tài sản

Để đánh giá chất lượng còn lại của tài sản, hội đồng thanh lý có thể dựa trên các yếu tố như: sổ theo dõi chế độ bảo hành, những hỏng hóc gặp phải trong quá trình sử dụng và số lần bảo trì, sửa chữa tài sản; mức độ tiêu hao nhiên liệu; và mức độ cần thiết của tài sản đó.

Dựa trên đánh giá chất lượng còn lại, Hội đồng thanh lý cần xác định giá trị còn lại của tài sản. Sau đó, lựa chọn hình thức thanh lý đối với từng loại tài sản.

Trường hợp việc xác định giá trị tài sản quá phức tạp, Hội đồng thanh lý không đủ khả năng hoặc thời gian để thực hiện thì có thể thuê tổ chức thẩm định giá tài sản thực hiện việc thẩm định giá tài sản.

Kết quả định giá phải được lập thành văn bản.

Bước 5: Ra quyết định lựa chọn hình thức xử lý tài sản

Những hình thức xử lý có thể là

  • Bán đấu giá tài sản.
  • Chỉ định người mua.
  • Thông báo bán công khai, tự tìm kiếm người mua.

Bước 6: Ký hợp đồng mua bán tài sản, xuất hóa đơn và làm các thủ tục đăng ký khác nếu có

Ví dụ: Khi bán nhà xưởng thì phải làm thủ tục chuyển Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, khi bán xe ô tô thì cần làm thủ tục sang tên xe…

Bước 7: Tổng hợp, xử lý kết quả thanh lý tài sản

Hồ sơ thanh lý tài sản bao gồm biên bản thanh lý tài sản cố định, biên bản định giá tài sản, tập hợp các văn bản liên quan đến kết quả xử lý tài sản (hợp đồng, hóa đơn bán hàng ), thực hiện các bút toán kế toán có liên quan (ghi giảm giá trị tài sản, ghi tăng tài khoản tiền mặt, tiền ngân hàng …)