1. Giám sát ngân hàng là gì?
Hoạt động giám sát ngân hàng được quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) năm 2010 (Khoản 12, Điều 6) là “hoạt động của NHNN trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
2. Nội dung giám sát ngân hàng
Thu thập, tổng hợp và xử lý các tài liệu, thông tin, dữ liệu của đối tượng giám sát ngân hàng theo yêu cầu giám sát; kết hợp giám sát an toàn toàn bộ hệ thống các TCTD với giám sát an toàn của từng TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng;
Phân tích, đánh giá thường xuyên tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức độ rủi ro của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, rủi ro mang tính hệ thống; thực hiện xếp hạng các TCTD hằng năm theo mức độ an toàn;
Phát hiện, cảnh báo các yếu tố tác động, xu hướng biến động tiêu cực, rủi ro gây mất an toàn hoạt động đối với từng TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và hệ thống các TCTD; các rủi ro, nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng;
Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các rủi ro, vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Hoạt động giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương, kết hợp chặt chẽ giữa giám sát việc chấp hành chính sách pháp luật về tiền tệ, ngân hàng với giám sát trên cơ sở rủi ro. Đến nay, nội dung giám sát không chỉ dừng ở việc giám sát việc tuân thủ pháp luật, chấp hành các tỷ lệ, giới hạn an toàn hoạt động mà còn chú trọng đánh giá, cảnh báo rủi ro trong hoạt động của TCTD. Bên cạnh giám sát vi mô đối với từng TCTD, các hệ thống giám sát an toàn vĩ mô từng bước được nghiên cứu, triển khai như mô hình dự báo tài chính FPM, bộ chỉ số lành mạnh tài chính FSIs và các mô hình kiểm tra sức chịu đựng của hệ thống và mô hình đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (DEA).
3. Quy định về hình thức giám sát ngân hàng
Về hình thức, giám sát ngân hàng được tiến hành thông qua giám sát an toàn vi mô và giám sát an toàn vĩ mô, trong đó giám sát an toàn vi mô được hiểu là hình thức giám sát an toàn đối với từng TCTD riêng lẻ và giám sát an toàn vĩ mô là hình thức giám sát an toàn toàn bộ hệ thống các TCTD (giám sát an toàn hệ thống). Tại Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 về tổ chức và hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng có quy định giám sát ngân hàng được tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua giám sát an toàn vĩ mô, giám sát an toàn vi mô và sử dụng các phương pháp, tiêu chuẩn, công cụ giám sát và hệ thống thông tin, báo cáo do Thống đốc NHNN quy định, trong đó:
Giám sát an toàn vi mô: Là hình thức giám sát an toàn đối với từng đối tượng giám sát riêng lẻ, được thực hiện trên cơ sở hệ thống xếp hạng, đánh giá đối tượng giám sát ngân hàng; hệ thống thông tin, báo cáo phục vụ giám sát an toàn vi mô; các chuẩn mực an toàn; hệ thống quy trình, công cụ, tiêu chuẩn và các kỹ năng phân tích tài chính, hoạt động; đánh giá, giám sát và cảnh báo các loại rủi ro, vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng;
Giám sát an toàn vĩ mô: Là hình thức giám sát an toàn toàn bộ hệ thống các TCTD được thực hiện trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ lành mạnh tài chính và an toàn hoạt động; hệ thống thông tin, báo cáo phục vụ phân tích và giám sát an toàn vĩ mô; hệ thống phương pháp, công cụ, quy trình phân tích, giám sát, cảnh báo sự an toàn, ổn định của hệ thống các TCTD; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về an toàn và ổn định hệ thống.
Đây là hai hình thức giám sát không thể tách rời nhau, sẽ là không đầy đủ nếu chỉ xem xét, đánh giá mức độ an toàn, lành mạnh của toàn bộ hệ thống các TCTD theo các phân tích tổng hợp mà không xem xét tới từng TCTD riêng lẻ do đặc điểm lan truyền rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Ở chiều ngược lại, việc chỉ xem xét, đánh giá từng TCTD sẽ không có được cái nhìn hệ thống, phân tích tác động của hoạt động ngân hàng lên nền kinh tế để từ đó có các quyết sách đúng đắn vừa thúc đẩy, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo an toàn hệ thống.
4. Phương pháp giám sát ngân hàng
Về phương pháp giám sát là phương pháp định hướng cho hoạt động giám sát của ngân hàng trung ương (NHTƯ) đối với các TCTD. Căn cứ vào tính chất đặc thù hoạt động cũng như trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng mà mỗi NHTƯ có các phương pháp giám sát khác nhau, tuy nhiên, về cơ bản thì hiện nay các TCTD trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có 02 phương pháp: (i) Phương pháp giám sát tuân thủ; và (ii) Phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro. Theo đó:
- Phương pháp giám sát tuân thủ: Đây là phương pháp mà NHTƯ sử dụng để kiểm tra và theo dõi việc tuân thủ của các TCTD về quy định pháp luật liên quan tới an toàn hoạt động ngân hàng. Theo đánh giá của các chuyên gia của Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật Đức (GIZ) thì Phương pháp tuân thủ thường được dùng ở những giai đoạn mà hoạt động ngân hàng đơn thuần là những hoạt động truyền thống, các dịch vụ ngân hàng hiện đại chưa phát triển, số lượng ngân hàng chưa nhiều.
- Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro: Đây là phương pháp được xây dựng dựa trên việc giám sát hoạt động chung của TCTD thông qua việc đánh giá các loại rủi ro mà TCTD đang và sẽ gặp phải như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro pháp lý…
Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro thường được áp dụng tại các quốc gia mà hoạt động ngân hàng tương đối phát triển, hoạt động ngân hàng không còn bao gồm các hoạt động truyền thống mà còn mở rộng các loại hoạt động và dịch vụ ngân hàng hiện đại. Theo các chuyên gia ngân hàng, phương pháp này đòi hỏi phải có một sự phát triển đồng bộ về hệ thống cơ sở pháp lý, về hệ thống quản lý thông tin, các công cụ định lượng và trình độ của cán bộ giám sát ngân hàng, đặc biệt là khả năng phân tích và sử dụng các công cụ định lượng.
5. Vai trò của hoạt động giám sát ngân hàng
Trên cơ sở phân tích khái niệm và bản chất hoạt động TCTD cũng như vai trò của các TCTD đối với nền kinh tế, đặc biệt tính nhạy cảm, dễ bị tổn thương trước các cuộc khủng hoảng tài chính, có thể nhận thấy, hoạt động giám sát của NHTƯ đối với các TCTD có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ổn định của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, bởi lẽ:
Thứ nhất, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng có vai trò hết sức cần thiết đối với các thành phần kinh tế, thực tiễn cho thấy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hoạt động ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển với nhiều tiện ích, đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp. Nhiều nhà kinh tế còn quan niệm “ngân hàng là người bạn đồng hành trong cuộc sống của người dân và các tổ chức kinh tế”, tuy nhiên, việc mở rộng quy mô cũng như đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của mình, các TCTD luôn phải đối mặt với rủi ro. Việc chấp nhận mở rộng và phát triển kinh doanh của các TCTD cũng đồng nghĩa với việc xuất hiện các rủi ro trong kinh doanh. Vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các TCTD sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao để đạt được mục tiêu của mình. Nếu rủi ro xảy ra, cũng đồng nghĩa với việc các TCTD phải đối mặt với nguy cơ sụt giảm uy tín, mất khả năng thanh khoản, và thậm chí là đi tới phá sản hay đóng cửa. Điều này đòi hỏi hoạt động ngân hàng phải được sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý để tránh các nguy cơ đổ vỡ, đảm bảo sự an toàn lành mạnh cho hệ thống nói chung và từng TCTD nói riêng.
Việc giám sát chặt chẽ các TCTD sẽ giúp cho các TCTD giảm thiểu được rủi ro đối với từng ngân hàng và giúp cho các TCTD hoạt động an toàn, đảm bảo được khả năng chi trả cũng như nghĩa vụ thanh toán của nó tại những thời điểm xác định. Hơn thế nữa, việc giám sát các TCTD bởi các cơ quan quản lý cũng sẽ đảm bảo rằng các TCTD có đủ mức vốn để trụ vững trước những tác động bất lợi từ môi trường bên ngoài cũng như bên trong của TCTD (Lingdgren 1996). Ngoài ra, việc giám sát chặt chẽ các TCTD còn có vai trò tích cực tới nâng cao trách nhiệm của các TCTD trong việc tăng cường năng lực quản trị rủi ro trong các NHTM, đảm bảo ứng phó tốt nhất đối với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
Có ý kiến cho rằng, việc giám sát các TCTD không chỉ đơn thuần là đảm bảo cho từng TCTD hoạt động an toàn mà còn đảm bảo sự ổn định của toàn bộ hệ thống. Việc giám sát các TCTD sẽ giúp cơ quan chức năng sớm xác định những nguy cơ tiềm tàng có thể làm tổn thương đến hệ thống ngân hàng, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn sớm sự bất ổn của hệ thống. Hơn thế nữa, việc giám sát còn giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, ổn định, thực hiện tốt và hiệu quả việc phân bổ nguồn lực tài chính từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư, các loại rủi ro tài chính được giám sát, đánh giá và quản lý một cách hiệu quả để đảm bảo hệ thống tránh được sự đổ vỡ hàng loạt với số lượng lớn các định chế tài chính.
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
Ngân hàng thương mại là nơi tích trữ tiền tiết kiệm hàng đầu của công chúng, đặc biệt là tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình, việc thất thoát các khoản vốn này trong trường hợp ngân hàng phá sản sẽ trở thành thảm họa cho nhiều cá nhân và hộ gia đình (Huệ 2011). Trong khi đó, người gửi tiền lại thiếu kiến thức chuyên môn về tài chính và thiếu thông tin cần thiết để đánh giá chính xác mức độ rủi ro của ngân hàng, do đó, việc giám sát hoạt động của các NHTM sẽ giúp cho cơ quan quản lý có được những thông tin cần thiết để xác định tình trạng tài chính của ngân hàng để từ đó có những giải pháp phù hợp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.
Thực tế cho thấy, khi ngân hàng đổ vỡ và lây lan đến cả hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng và tác động tiêu cực tới công chúng và toàn xã hội là rất lớn. Do đó, các Chính phủ thường phải bỏ tiền để ngăn chặn và khắc phục hậu quả, thống kê của các tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB) thì chi phí bỏ ra để ngăn ngừa sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng và đảm bảo quyền lợi người gửi tiền không dưới 20% GDP.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ
Các TCTD cần được quản lý chặt chẽ bởi khả năng tạo tiền từ những khoản tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức kinh tế thông qua hoạt động cho vay và đầu tư. Sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ do hệ thống ngân hàng tạo ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) cũng như các mục tiêu kinh tế vĩ mô đặt ra. Bên cạnh đó, các rủi ro liên quan đến ngân hàng như nợ xấu cao, mất vốn, mất khả năng chi trả… cũng ảnh hưởng đến ổn định xã hội và gây ra tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm phát hay cản trở tăng trưởng kinh tế. Do vậy, việc giám sát chặt chẽ các TCTD sẽ giúp cho Chính phủ và NHTƯ có thể thực thi CSTT một cách hiệu quả và đạt được các mục tiêu đề ra trong ngắn hạn cũng như trung và dài hạn. Hơn nữa, việc giám sát hoạt động ngân hàng thương mại còn làm tăng niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính, đảm bảo các khoản tiết kiệm được tập trung cho đầu tư sản xuất và đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế.
Thứ tư, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng
Các nhà kinh tế học chỉ ra rằng, các ngân hàng cần chịu sự quản lý và giám sát của các cơ quan chức năng bởi lẽ chúng cung cấp cho cá nhân và doanh nghiệp những khoản vay, tài trợ tiêu dùng hoặc tài trợ đầu tư. Xã hội sẽ thu được những lợi ích to lớn nếu như hệ thống ngân hàng cung cấp một lượng tín dụng thích hợp và đúng địa chỉ. Tuy nhiên, khi có sự phân biệt đối xử trong việc cấp tín dụng, các cá nhân, doanh nghiệp bị phân biệt đối xử sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn, điều này có thể ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh và nền kinh tế nói chung. Do vậy, việc giám sát các TCTD sẽ giúp cơ quản quản lý hạn chế và từng bước loại bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính. Ngoài ra, việc giám sát cũng giúp cho Chính phủ và NHTƯ ngăn chặn việc tập trung tiềm lực tài chính và tay một số ít cá nhân hay tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế và thị trường cạnh tranh.