- 1. Quy định của pháp luật về chế độ làm việc đối với giáo viên mang thai
- 1.1. Những văn bản pháp luật điều chỉnh chế độ làm việc của giáo viên mang thai
- 1.2. Chế độ làm việc của giáo viên được xác định như thế nào?
- 1.3. Nguyên tắc bảo vệ giáo viên nữ trong thời gian mang thai
- 1.4. Giáo viên mang thai có được bố trí công việc nhẹ hơn không?
- 1.5. Nhà trường có trách nhiệm gì đối với giáo viên mang thai?
- 2. Giáo viên mang thai có được giảm tiết dạy không?
- 2.1. Mang thai có phải căn cứ để giảm định mức tiết dạy không?
- 2.2. Định mức tiết dạy của giáo viên phổ thông
- 2.3. Giáo viên mầm non mang thai có được giảm giờ dạy không?
- 2.4. Giáo viên nuôi con dưới 12 tháng tuổi được giảm bao nhiêu tiết?
- 2.5. Giáo viên mang thai đi khám thai có phải dạy bù không?
- 2.6. Giáo viên mang thai có thể được điều chỉnh thời khóa biểu không?
- 3. Thủ tục và hồ sơ cần chuẩn bị để xin giảm tiết dạy cho giáo viên mang thai
- 3.1. Giáo viên mang thai có thể làm đơn xin giảm tiết dạy không?
- 3.2. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh phân công giảng dạy
- 3.3. Nội dung cần có trong đơn đề nghị
- 3.4. Mẫu đơn đề nghị điều chỉnh phân công giảng dạy trong thời gian mang thai
- 3.5. Quy trình đề nghị điều chỉnh nhiệm vụ giảng dạy
- 3.6. Nếu nhà trường không đồng ý giảm tiết dạy thì phải làm gì?
- 4. Các quyền lợi khác của giáo viên khi mang thai theo Luật Lao động
- 4.1. Không phải làm thêm giờ, làm việc ban đêm hoặc đi công tác xa trong những trường hợp luật định
- 4.2. Quyền nghỉ khám thai theo chế độ bảo hiểm xã hội
- 4.3. Quyền được bảo vệ việc làm trong thời gian mang thai
- 4.4. Không bị xử lý kỷ luật lao động trong thời gian mang thai
- 4.5. Quyền tạm hoãn hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng khi mang thai
- 4.6. Chế độ nghỉ thai sản khi sinh con
- 4.7. Giáo viên nghỉ thai sản trùng kỳ nghỉ hè có được nghỉ bù không?
- 4.8. Chế độ giảm giờ làm việc khi nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Trong thời gian mang thai, giáo viên có thể gặp nhiều khó khăn khi thực hiện công việc giảng dạy, đặc biệt đối với những người phải đứng lớp liên tục, di chuyển giữa các phòng học hoặc đảm nhiệm thêm công tác chủ nhiệm, hoạt động ngoại khóa và những nhiệm vụ chuyên môn khác. Vì vậy, một trong những vấn đề được quan tâm là giáo viên mang thai có được giảm số tiết dạy hay không, nếu muốn giảm tiết thì cần thực hiện thủ tục gì và những quyền lợi thai sản được pháp luật bảo đảm như thế nào.
Theo quy định hiện hành, giáo viên không đương nhiên được giảm định mức tiết dạy chỉ vì đang mang thai. Tuy nhiên, giáo viên vẫn được hưởng các chế độ bảo vệ thai sản theo Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và những quy định chuyên ngành giáo dục.
Đặc biệt, cần phân biệt chế độ áp dụng trong thời gian mang thai với chế độ giảm định mức tiết dạy dành cho giáo viên nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là hai giai đoạn có quyền lợi và điều kiện áp dụng khác nhau.
1. Quy định của pháp luật về chế độ làm việc đối với giáo viên mang thai
1.1. Những văn bản pháp luật điều chỉnh chế độ làm việc của giáo viên mang thai
Chế độ làm việc của giáo viên mang thai chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật, tùy thuộc vào cấp học, loại hình cơ sở giáo dục và quan hệ lao động cụ thể.
Các căn cứ pháp lý quan trọng bao gồm:
- Bộ luật Lao động năm 2019, đặc biệt là các quy định về bảo vệ thai sản đối với lao động nữ.
- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, quy định về chế độ thai sản đối với người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Luật Viên chức và các quy định có liên quan đối với giáo viên là viên chức trong cơ sở giáo dục công lập.
- Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học.
- Thông tư 11/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên mầm non.
Trong đó, Bộ luật Lao động quy định những nguyên tắc chung nhằm bảo vệ sức khỏe, việc làm và quyền lợi của lao động nữ mang thai.
Các thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể định mức giảng dạy, chế độ giảm định mức và việc tính tiết dạy trong một số trường hợp nghỉ theo chế độ.
Đối với giáo viên làm việc tại cơ sở giáo dục tư thục, ngoài quy định pháp luật, cần xem xét thêm hợp đồng lao động, nội quy và các thỏa thuận hợp pháp với nhà trường.
1.2. Chế độ làm việc của giáo viên được xác định như thế nào?
Khác với nhiều ngành nghề có thời gian làm việc chủ yếu được xác định theo số giờ hành chính, công việc của giáo viên được tổ chức theo kế hoạch năm học và định mức giảng dạy.
Đối với giáo viên phổ thông, định mức thường được xác định bằng số tiết giảng dạy trung bình trong một tuần.
Đối với giáo viên mầm non, chế độ làm việc còn gắn với thời gian trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
Bên cạnh thời gian đứng lớp, giáo viên còn thực hiện nhiều nhiệm vụ khác như:
- Xây dựng kế hoạch giáo dục và chuẩn bị bài giảng.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn.
- Phối hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục.
- Thực hiện nhiệm vụ chủ nhiệm hoặc nhiệm vụ kiêm nhiệm khác.
- Tham gia các hoạt động chuyên môn theo kế hoạch của nhà trường.
Do đó, việc xem xét chế độ làm việc của giáo viên mang thai không chỉ dừng lại ở số tiết đứng lớp mà còn cần tính đến tổng thể nhiệm vụ được giao.
1.3. Nguyên tắc bảo vệ giáo viên nữ trong thời gian mang thai
Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định các biện pháp bảo vệ thai sản đối với lao động nữ.
Theo đó, người sử dụng lao động phải tuân thủ những giới hạn nhất định khi bố trí công việc cho lao động nữ đang mang thai.
Đáng chú ý, khoản 1 Điều 137 quy định người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp:
- Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7.
- Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới hoặc hải đảo.
Đối với giáo viên, quy định này có ý nghĩa khi nhà trường phân công những nhiệm vụ ngoài giờ giảng dạy thông thường.
Ví dụ, giáo viên đang mang thai tháng thứ 7 không được bố trí làm thêm giờ để thực hiện những nhiệm vụ phát sinh ngoài thời giờ làm việc theo quy định.
Tương tự, việc phân công giáo viên trong giai đoạn này đi công tác xa phải tuân thủ giới hạn bảo vệ thai sản của pháp luật.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc dạy theo thời khóa biểu trong thời giờ làm việc bình thường và việc làm thêm giờ. Không phải mọi tiết dạy ngoài buổi sáng hoặc mọi hoạt động chuyên môn đều đương nhiên được xác định là làm thêm giờ.
1.4. Giáo viên mang thai có được bố trí công việc nhẹ hơn không?
Theo khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con, khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích.
Quy định này không có nghĩa mọi giáo viên mang thai đều được giảm 01 giờ làm việc mỗi ngày.
Để được áp dụng chế độ bắt buộc theo khoản 2 Điều 137, cần xác định công việc thực tế có thuộc nhóm nghề, công việc mà điều luật quy định hay không.
Ví dụ, giáo viên thường xuyên làm việc trong môi trường có yếu tố độc hại, nguy hiểm có thể cần được xem xét theo tính chất công việc thực tế và danh mục nghề, công việc liên quan.
Đối với giáo viên giảng dạy thông thường, việc mang thai không tự động làm phát sinh quyền giảm 01 giờ làm việc hằng ngày theo quy định này.
Tuy nhiên, giáo viên vẫn có thể đề nghị nhà trường điều chỉnh lịch giảng dạy hoặc phân công nhiệm vụ phù hợp với tình trạng sức khỏe.
1.5. Nhà trường có trách nhiệm gì đối với giáo viên mang thai?
Nhà trường có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định về bảo vệ thai sản, bảo đảm điều kiện làm việc an toàn và giải quyết những chế độ hợp pháp của giáo viên.
Tùy trường hợp, trách nhiệm này có thể bao gồm:
- Không bố trí giáo viên mang thai làm thêm giờ, làm việc ban đêm hoặc đi công tác xa trong những giai đoạn pháp luật cấm.
- Thực hiện chế độ nghỉ khám thai theo quy định.
- Xem xét việc điều chỉnh nhiệm vụ khi có căn cứ về sức khỏe hoặc điều kiện làm việc.
- Không phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi cho giáo viên chỉ vì lý do mang thai.
- Không chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái quy định vì lý do mang thai.
- Giải quyết chế độ nghỉ thai sản và các quyền lợi bảo hiểm xã hội khi giáo viên đáp ứng điều kiện.
Việc phân công công việc cần bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu tổ chức hoạt động giáo dục và quyền lợi hợp pháp của giáo viên.
2. Giáo viên mang thai có được giảm tiết dạy không?
2.1. Mang thai có phải căn cứ để giảm định mức tiết dạy không?
Theo các quy định chuyên ngành được đề cập trong tài liệu nghiên cứu, việc giáo viên mang thai không phải là căn cứ độc lập làm phát sinh quyền giảm định mức tiết dạy hằng tuần.
Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT và Thông tư 11/2026/TT-BGDĐT quy định các trường hợp giảm định mức giảng dạy, trong đó có chế độ dành cho giáo viên nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ:
Giáo viên đang mang thai là người chưa sinh con và đang trong thời kỳ thai nghén.
Giáo viên nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi là người đã sinh con và đang trong giai đoạn chăm sóc trẻ dưới 01 tuổi.
Hai trường hợp này có chế độ làm việc khác nhau.
Vì vậy, giáo viên đang mang thai không đương nhiên được giảm số tiết dạy chỉ vì đã có xác nhận mang thai.
Nội dung này cũng được phân tích trong tài liệu nghiên cứu về chế độ làm việc của giáo viên mang thai, trong đó phân biệt việc giảm định mức giảng dạy với các biện pháp bảo vệ thai sản khác.
2.2. Định mức tiết dạy của giáo viên phổ thông
Theo Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT, định mức tiết dạy trung bình trong một tuần của giáo viên được xác định theo cấp học và loại hình cơ sở giáo dục.
Đối với giáo viên phổ thông thông thường, định mức cơ bản được xác định như sau:
| Cấp học | Định mức tiết dạy trung bình |
|---|---|
| Tiểu học | 23 tiết/tuần |
| Trung học cơ sở | 19 tiết/tuần |
| Trung học phổ thông | 17 tiết/tuần |
Đây là định mức cơ bản, chưa tính đến những trường hợp được giảm định mức do kiêm nhiệm hoặc thuộc diện áp dụng chế độ riêng.
Ví dụ, một giáo viên trung học cơ sở có định mức 19 tiết/tuần.
Nếu giáo viên này mang thai nhưng không thuộc trường hợp được giảm định mức theo quy định khác, việc mang thai không tự động làm giảm định mức từ 19 tiết xuống 16 tiết hoặc một mức khác.
Tuy nhiên, nhà trường vẫn phải tuân thủ các quy định về bảo vệ thai sản khi bố trí thời khóa biểu và nhiệm vụ.
2.3. Giáo viên mầm non mang thai có được giảm giờ dạy không?
Đối với giáo viên mầm non, chế độ làm việc được xác định theo đặc thù nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
Theo Thông tư 11/2026/TT-BGDĐT được nêu trong tài liệu nghiên cứu, định mức giờ dạy trực tiếp của giáo viên mầm non được xác định theo hình thức tổ chức lớp học.
Cụ thể:
| Hình thức tổ chức lớp | Định mức giờ dạy |
|---|---|
| Lớp học 02 buổi/ngày | 06 giờ/ngày |
| Lớp học 01 buổi/ngày | 04 giờ/ngày |
Việc giáo viên mầm non mang thai không đương nhiên làm giảm định mức giờ dạy nêu trên.
Tuy nhiên, công việc tại cơ sở mầm non thường bao gồm nhiều hoạt động như chăm sóc trẻ, tổ chức ăn ngủ, hỗ trợ vệ sinh, tổ chức vận động và quản lý an toàn cho trẻ.
Nếu sức khỏe thai kỳ bị ảnh hưởng bởi những nhiệm vụ cụ thể, giáo viên có thể đề nghị nhà trường xem xét điều chỉnh công việc hoặc lịch làm việc.
Đối với công việc thuộc nhóm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con theo quy định, cần áp dụng chế độ bảo vệ tương ứng của Bộ luật Lao động.
2.4. Giáo viên nuôi con dưới 12 tháng tuổi được giảm bao nhiêu tiết?
Khác với giai đoạn mang thai, giáo viên nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thuộc nhóm được áp dụng chế độ giảm định mức giảng dạy theo quy định chuyên ngành.
Theo các thông tư được đề cập trong tài liệu nghiên cứu, mức giảm được xác định như sau:
| Đối tượng | Mức giảm định mức |
|---|---|
| Giáo viên tiểu học | 04 tiết/tuần |
| Giáo viên trung học cơ sở | 03 tiết/tuần |
| Giáo viên trung học phổ thông | 03 tiết/tuần |
| Giáo viên dự bị đại học | 03 tiết/tuần |
| Giáo viên mầm non | 05 giờ dạy/tuần |
Ví dụ, giáo viên tiểu học có định mức 23 tiết/tuần, khi thuộc diện giảm 04 tiết/tuần thì định mức còn 19 tiết/tuần.
Giáo viên trung học cơ sở có định mức 19 tiết/tuần, khi được giảm 03 tiết/tuần thì định mức còn 16 tiết/tuần.
Giáo viên trung học phổ thông có định mức 17 tiết/tuần, khi được giảm 03 tiết/tuần thì định mức còn 14 tiết/tuần.
Cần lưu ý, chế độ này áp dụng trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, không phải ngay từ thời điểm giáo viên mang thai.
2.5. Giáo viên mang thai đi khám thai có phải dạy bù không?
Đây là vấn đề cần phân biệt với việc giảm định mức tiết dạy.
Theo nội dung quy định chuyên ngành được tổng hợp trong tài liệu nghiên cứu, trường hợp giáo viên nghỉ để khám bệnh, chữa bệnh, được hiệu trưởng đồng ý và có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì các tiết dạy theo kế hoạch trong thời gian nghỉ có thể được tính vào định mức mà không phải dạy bù, theo điều kiện của quy định tương ứng.
Đối với giáo viên nghỉ khám thai, cần xác định việc nghỉ có thuộc trường hợp được áp dụng chế độ này hay không và chuẩn bị đầy đủ giấy tờ liên quan.
Ví dụ, giáo viên được phân công dạy 04 tiết vào ngày có lịch khám thai.
Nếu việc nghỉ đáp ứng điều kiện của quy định chuyên ngành và được nhà trường giải quyết đúng chế độ, giáo viên không phải tự động dạy bù toàn bộ 04 tiết đó chỉ vì đã nghỉ khám thai.
Tuy nhiên, giáo viên cần thực hiện thủ tục thông báo, xin nghỉ và cung cấp chứng từ phù hợp.
Không nên tự ý nghỉ dạy mà không thực hiện quy trình của nhà trường.
2.6. Giáo viên mang thai có thể được điều chỉnh thời khóa biểu không?
Mặc dù không đương nhiên được giảm định mức tiết dạy, giáo viên mang thai vẫn có thể đề nghị nhà trường điều chỉnh thời khóa biểu để phù hợp với tình trạng sức khỏe.
Chẳng hạn, giáo viên có thể đề nghị:
- Hạn chế việc phải di chuyển liên tục giữa nhiều phòng học.
- Ưu tiên bố trí lớp học ở vị trí thuận tiện khi có khó khăn về vận động.
- Sắp xếp lịch dạy hợp lý để có thời gian nghỉ giữa các tiết.
- Xem xét giảm bớt nhiệm vụ kiêm nhiệm khi điều kiện nhân sự cho phép.
- Bố trí người dạy thay trong những ngày nghỉ khám thai hợp lệ.
Đây là những phương án tổ chức công việc mà nhà trường có thể xem xét trên cơ sở tình hình thực tế, không phải tất cả đều là quyền giảm tiết bắt buộc theo pháp luật.
Đặc biệt, nếu có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về việc hạn chế một số hoạt động, giáo viên nên cung cấp giấy tờ để nhà trường có căn cứ xem xét.
3. Thủ tục và hồ sơ cần chuẩn bị để xin giảm tiết dạy cho giáo viên mang thai
3.1. Giáo viên mang thai có thể làm đơn xin giảm tiết dạy không?
Giáo viên mang thai có thể gửi đơn đề nghị nhà trường xem xét điều chỉnh phân công giảng dạy hoặc giảm bớt một số nhiệm vụ để phù hợp với tình trạng sức khỏe.
Tuy nhiên, cần xác định rõ bản chất của yêu cầu.
Nếu chỉ căn cứ vào việc đang mang thai, giáo viên không đương nhiên có quyền yêu cầu giảm định mức tiết dạy theo chế độ dành cho người nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Vì vậy, nội dung đơn nên tập trung vào việc đề nghị hỗ trợ, điều chỉnh nhiệm vụ hoặc áp dụng một chế độ cụ thể mà giáo viên đủ điều kiện hưởng.
Ví dụ, thay vì chỉ ghi “Đơn xin giảm tiết dạy do mang thai”, giáo viên có thể sử dụng tên đơn:
“Đơn đề nghị điều chỉnh phân công giảng dạy trong thời gian mang thai”.
Cách trình bày này phù hợp hơn khi người làm đơn đề nghị nhà trường xem xét bố trí công việc theo tình trạng sức khỏe thực tế.
3.2. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh phân công giảng dạy
Pháp luật không quy định một bộ hồ sơ thống nhất trên toàn quốc mang tên “hồ sơ xin giảm tiết dạy cho giáo viên mang thai” chỉ dựa trên tình trạng mang thai.
Tùy yêu cầu cụ thể và quy trình của cơ sở giáo dục, giáo viên có thể chuẩn bị những tài liệu sau:
| Tài liệu | Mục đích |
|---|---|
| Đơn đề nghị điều chỉnh phân công công tác | Trình bày yêu cầu và lý do đề nghị |
| Giấy xác nhận mang thai hoặc tài liệu theo dõi thai kỳ | Chứng minh tình trạng mang thai khi cần thiết |
| Giấy chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh | Làm rõ yêu cầu hạn chế hoạt động hoặc nghỉ ngơi |
| Thời khóa biểu hiện tại | Xác định những nhiệm vụ cần điều chỉnh |
| Tài liệu liên quan đến chế độ nghỉ khám thai | Làm căn cứ giải quyết chế độ nghỉ theo quy định |
Không phải mọi trường hợp đều cần nộp đầy đủ tất cả tài liệu nêu trên.
Chẳng hạn, giáo viên chỉ đề nghị thay đổi phòng học cho thuận tiện có thể không cần cung cấp toàn bộ hồ sơ y tế.
Ngược lại, nếu đề nghị áp dụng một chế độ liên quan đến tình trạng sức khỏe, giấy tờ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể là căn cứ quan trọng.
Nhà trường cũng cần tôn trọng quyền riêng tư đối với thông tin sức khỏe của giáo viên.
3.3. Nội dung cần có trong đơn đề nghị
Đơn đề nghị điều chỉnh phân công giảng dạy nên có những nội dung cơ bản sau:
- Thông tin của giáo viên và đơn vị công tác.
- Vị trí công tác, cấp học và nhiệm vụ đang đảm nhiệm.
- Tình trạng mang thai và những khó khăn liên quan trực tiếp đến công việc.
- Nội dung đề nghị điều chỉnh.
- Thời gian dự kiến cần được hỗ trợ.
- Tài liệu kèm theo, nếu có.
- Cam kết phối hợp với nhà trường để bảo đảm hoạt động giảng dạy.
Nội dung đơn cần trình bày rõ ràng, trung thực và tập trung vào yêu cầu thực tế.
Không nhất thiết phải cung cấp những thông tin y tế chi tiết không liên quan đến việc xem xét điều chỉnh công việc.
3.4. Mẫu đơn đề nghị điều chỉnh phân công giảng dạy trong thời gian mang thai
Dưới đây là mẫu tham khảo:
ĐƠN ĐỀ NGHỊ ĐIỀU CHỈNH PHÂN CÔNG GIẢNG DẠY TRONG THỜI GIAN MANG THAI
Kính gửi: Ban Giám hiệu Trường ....................................
Tôi tên là: ............................................................
Ngày, tháng, năm sinh: ...........................................
Đơn vị công tác: .....................................................
Chức vụ hoặc nhiệm vụ hiện tại: .................................
Hiện nay, tôi đang mang thai và dự kiến sinh vào tháng ........ năm ........
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, tôi gặp một số khó khăn về sức khỏe, cụ thể: ...................................................................................
Để bảo đảm sức khỏe trong thời gian mang thai và tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, tôi kính đề nghị Ban Giám hiệu xem xét hỗ trợ điều chỉnh việc phân công công tác như sau:
...................................................................................
...................................................................................
Thời gian đề nghị áp dụng: Từ ngày .... tháng .... năm .... đến ngày .... tháng .... năm ....
Tôi gửi kèm các tài liệu liên quan để nhà trường xem xét, nếu cần thiết.
Tôi cam kết phối hợp với tổ chuyên môn và nhà trường trong quá trình điều chỉnh công việc, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phù hợp với điều kiện sức khỏe và quy định hiện hành.
Kính mong Ban Giám hiệu xem xét, tạo điều kiện.
Xin trân trọng cảm ơn!
........, ngày .... tháng .... năm ....
Người làm đơn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Mẫu trên chỉ có tính chất tham khảo, không phải biểu mẫu bắt buộc do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
3.5. Quy trình đề nghị điều chỉnh nhiệm vụ giảng dạy
Giáo viên có thể thực hiện theo các bước sau.
Bước 1: Trao đổi với tổ chuyên môn.
Giáo viên thông báo những khó khăn liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ và đề xuất phương án phù hợp.
Bước 2: Chuẩn bị đơn và tài liệu liên quan.
Trường hợp có chỉ định y tế, nên cung cấp giấy tờ phù hợp để làm căn cứ xem xét.
Bước 3: Gửi đơn đến Ban Giám hiệu.
Đơn có thể được gửi thông qua tổ chuyên môn hoặc bộ phận phụ trách nhân sự theo quy trình của nhà trường.
Bước 4: Nhà trường xem xét phương án phân công.
Ban Giám hiệu căn cứ vào điều kiện nhân sự, kế hoạch giáo dục, tình trạng sức khỏe và các quy định pháp luật để quyết định phương án phù hợp.
Bước 5: Thực hiện phương án đã được thống nhất.
Nếu được điều chỉnh thời khóa biểu hoặc nhiệm vụ, giáo viên phối hợp với tổ chuyên môn để bảo đảm công việc được thực hiện liên tục.
Cần lưu ý, không có một thời hạn giải quyết chung áp dụng cho mọi đơn đề nghị điều chỉnh thời khóa biểu do mang thai. Thời gian xử lý phụ thuộc vào quy trình nội bộ và tính chất yêu cầu.
3.6. Nếu nhà trường không đồng ý giảm tiết dạy thì phải làm gì?
Trước tiên, cần xác định yêu cầu của giáo viên thuộc trường hợp pháp luật bắt buộc phải giải quyết hay chỉ là đề nghị hỗ trợ về tổ chức công việc.
Nếu giáo viên chỉ đề nghị giảm định mức tiết dạy vì đang mang thai, nhà trường có thể không chấp thuận do pháp luật không quy định chế độ giảm tiết chung cho trường hợp này.
Tuy nhiên, nếu giáo viên thuộc diện được áp dụng một quyền lợi bắt buộc theo Bộ luật Lao động hoặc quy định chuyên ngành mà nhà trường không thực hiện, giáo viên có thể yêu cầu giải thích bằng văn bản.
Tùy quan hệ công tác và tính chất vụ việc, giáo viên có thể đề nghị tổ chức đại diện người lao động, công đoàn hoặc cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ giải quyết.
Đối với giáo viên là viên chức, việc giải quyết còn cần căn cứ vào các quy định về quản lý viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập.
4. Các quyền lợi khác của giáo viên khi mang thai theo Luật Lao động
Ngoài vấn đề giảm tiết dạy, giáo viên mang thai còn được pháp luật bảo vệ về thời giờ làm việc, quyền nghỉ khám thai, chế độ bảo hiểm xã hội và sự ổn định của quan hệ lao động.
4.1. Không phải làm thêm giờ, làm việc ban đêm hoặc đi công tác xa trong những trường hợp luật định
Theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa khi mang thai từ tháng thứ 7.
Đối với lao động nữ làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới hoặc hải đảo, giới hạn này áp dụng từ tháng thứ 6 của thai kỳ.
Ví dụ, giáo viên mang thai tháng thứ 7 không được nhà trường bố trí làm thêm giờ để thực hiện nhiệm vụ ngoài thời giờ làm việc theo quy định.
Tương tự, việc phân công đi công tác xa trong giai đoạn này phải tuân thủ quy định bảo vệ thai sản.
Đây là quyền lợi bắt buộc, không phụ thuộc vào việc nhà trường có quy chế riêng về hỗ trợ giáo viên mang thai hay không.
4.2. Quyền nghỉ khám thai theo chế độ bảo hiểm xã hội
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, lao động nữ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản được nghỉ việc để đi khám thai.
Trong thời gian mang thai, người lao động được nghỉ khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày làm việc.
Thời gian nghỉ được xác định theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội.
Ví dụ, giáo viên có lịch khám thai vào ngày đang được phân công giảng dạy có thể thực hiện thủ tục nghỉ theo chế độ.
Giáo viên cần thông báo với nhà trường và chuẩn bị giấy tờ do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền cấp theo quy định.
Khoản trợ cấp trong thời gian nghỉ khám thai do cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết khi đáp ứng điều kiện.
Cần phân biệt tiền trợ cấp thai sản với tiền lương do nhà trường chi trả để tránh hiểu nhầm rằng mọi ngày nghỉ khám thai đều được thanh toán đồng thời cả hai khoản.
4.3. Quyền được bảo vệ việc làm trong thời gian mang thai
Khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ những trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định.
Điều này có nghĩa nhà trường không được lấy lý do giáo viên mang thai để tùy tiện chấm dứt quan hệ lao động.
Tuy nhiên, cần phân biệt việc chấm dứt hợp đồng vì lý do mang thai với những trường hợp chấm dứt hợp đồng hợp pháp khác.
Ví dụ, nếu hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn trong thời gian giáo viên mang thai, việc xử lý quan hệ lao động cần căn cứ vào quy định về thời hạn hợp đồng, quyền ưu tiên giao kết hợp đồng mới và các quy định bảo vệ thai sản có liên quan.
Không nên hiểu rằng mọi hợp đồng lao động đều tự động được kéo dài cho đến khi giáo viên sinh con.
4.4. Không bị xử lý kỷ luật lao động trong thời gian mang thai
Theo khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019, không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian mang thai.
Quy định này nhằm bảo vệ người lao động trong giai đoạn cần được chăm sóc sức khỏe đặc biệt.
Đối với giáo viên làm việc theo hợp đồng lao động, việc xử lý kỷ luật phải tuân thủ quy định tương ứng của Bộ luật Lao động.
Đối với giáo viên là viên chức, việc xem xét kỷ luật còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức và các quy định chuyên ngành có liên quan.
Do đó, cần xác định đúng tư cách pháp lý của giáo viên trước khi áp dụng quy trình xử lý kỷ luật.
4.5. Quyền tạm hoãn hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng khi mang thai
Theo Điều 138 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ mang thai có quyền đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.
Khi thực hiện quyền này, người lao động phải thông báo cho người sử dụng lao động và kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Trường hợp tạm hoãn hợp đồng, thời gian tạm hoãn được xác định theo thỏa thuận nhưng không được ít hơn thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.
Nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không chỉ định thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn.
Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với giáo viên có thai kỳ cần hạn chế công việc theo chỉ định y tế.
Tuy nhiên, giáo viên là viên chức cần đối chiếu thêm quy định về hợp đồng làm việc và chế độ quản lý viên chức để lựa chọn thủ tục phù hợp.
4.6. Chế độ nghỉ thai sản khi sinh con
Theo Điều 139 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng.
Trường hợp sinh đôi trở lên, tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
Ví dụ, giáo viên dự kiến sinh vào tháng 12 có thể lựa chọn thời điểm bắt đầu nghỉ thai sản phù hợp với quy định pháp luật và tình trạng sức khỏe.
Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đáp ứng điều kiện, chế độ trợ cấp thai sản được giải quyết theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
Mức trợ cấp thai sản hằng tháng về nguyên tắc được xác định bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, theo quy định áp dụng.
Ngoài trợ cấp thai sản hằng tháng, người lao động đủ điều kiện còn được xem xét hưởng trợ cấp một lần khi sinh con theo quy định.
4.7. Giáo viên nghỉ thai sản trùng kỳ nghỉ hè có được nghỉ bù không?
Đây là vấn đề thường gặp đối với giáo viên phổ thông.
Theo khoản 2 Điều 6 Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT được trình bày trong tài liệu nghiên cứu, trường hợp thời gian nghỉ thai sản của giáo viên nữ trùng với thời gian nghỉ hè thì việc giải quyết thời gian nghỉ phải bảo đảm quyền lợi theo quy định.
Theo đó, giáo viên vẫn được hưởng thời gian nghỉ thai sản theo pháp luật.
Đối với phần thời gian nghỉ hè không trùng với thời gian nghỉ thai sản, việc xác định thời gian nghỉ và chế độ liên quan được thực hiện theo quy định chuyên ngành.
Trường hợp thời gian nghỉ hè còn lại ít hơn số ngày nghỉ hằng năm theo Bộ luật Lao động, giáo viên được xem xét bố trí nghỉ thêm để bảo đảm quyền lợi theo quy định.
Việc sắp xếp thời gian nghỉ cần phù hợp với kế hoạch năm học và được thực hiện theo quy định áp dụng tại cơ sở giáo dục.
Không nên hiểu rằng mọi trường hợp nghỉ thai sản trùng kỳ nghỉ hè đều được nghỉ bù toàn bộ số ngày hè trùng với thời gian thai sản.
4.8. Chế độ giảm giờ làm việc khi nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Đây là chế độ khác với việc giảm định mức tiết dạy theo quy định chuyên ngành giáo dục.
Đối với giáo viên, cần phân biệt:
- Giảm định mức tiết dạy là việc điều chỉnh số tiết hoặc số giờ dạy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Nghỉ 60 phút mỗi ngày trong thời gian làm việc là quyền lợi được quy định tại Bộ luật Lao động.
Việc tổ chức thực hiện phải phù hợp với tính chất công việc, loại hình cơ sở giáo dục và các quy định áp dụng.
Nhà trường cần tránh nhầm lẫn hai chế độ hoặc tự động coi một chế độ đã thay thế hoàn toàn chế độ còn lại khi chưa có căn cứ pháp luật.
Bên cạnh đó quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm:
- Cập nhật định mức tiết dạy cho giáo viên GDTX
- Cách tính tiền một tiết dạy của giáo viên các cấp chuẩn
- Quy định về định mức tiết dạy đối với giáo viên phổ thông