1. Căn cứ pháp lý

- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

- Luật Giáo dục 2019

- Nghị định 20/2010/NĐ-CP

- Nghị định 18/2011/NĐ-CP

 

2. Giáo viên sinh con thứ 3 có được hưởng chế độ thai sản hay không?

- Giáo viên là gì?

Giáo viên là những nhà giáo chuyên trách giảng dạy và giáo dục cho học sinh, từ việc lên kế hoạch cho các bài học, thực hiện các hoạt động giảng dạy, đến phát triển các khóa học theo chương trình giảng dạy của trường. Họ cũng thường có trách nhiệm trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng cách ra đề và chấm điểm thi.

Theo quy định, giáo viên tại các trường công lập thường là viên chức, trong khi đó những người giữ các vị trí lãnh đạo và có chức vụ, chức danh sẽ được coi là công chức.

- Giáo viên sinh con thứ 3 có được hưởng chế độ thai sản hay không?

Căn cứ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 tại điểm c khoản 1 Điều 2 thì cán bộ, công chức, viên chức vẫn là đối tượng áp dụng của Luật này, cụ thể vẫn thuộc đối tượng áp dụng chế độ thai sản được quy định tại luật này. Như vậy, không phân biệt bạn là giáo viên thuộc các trường công lập hay không thì chế độ thai sản của bạn vẫn sẽ được điều chỉnh bởi Luật Bảo hiểm xã hội 2014.

Tiếp đó, tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 cũng có quy định về điều kiện được hưởng chế độ thai sản như sau:

Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.

Như vậy, theo các quy định trên, có thể thấy chỉ cần lao động nữ khi sinh con đã đóng bảo iểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con thì sẽ được coi là đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của bảo hiểm xã hội như bình thường. 

Trong trường hợp đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Việc người lao động nữ đã sinh con lần thứ mấy hay có bị kỷ luật hay không không quan trọng, chỉ cần lao động nữ thỏa mãn những điều kiện theo quy định trên để được hưởng chế độ thai sản thì họ hoàn toàn có thể được hưởng chế độ thai sản theo luật định.

Trước đây, vấn đề này được quy định tại Điều 10 của Điều lệ bảo hiểm xã hội năm 1995, trong đó quyền lợi của người mẹ chỉ được hưởng chế độ thai sản giới hạn ở con thứ nhất và con thứ hai. Tuy nhiên, từ khi Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ra đời và sửa đổi một số điều của Điều lệ bảo hiểm xã hội năm 1995 cho đến nay, quy định này đã được điều chỉnh và quyền lợi của người mẹ được hưởng chế độ thai sản đã không bị giới hạn trong hai lần sinh đầu tiên như trước nữa.

 

3. Chế độ thai sản đối với giáo viên sinh con lần thứ 3

3.1. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con thứ 3

Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có quy định về thời gian hưởng thai sản của giáo viên nói riêng và lao động nữ nói chung trong trường hợp thông thường tại Điều 34 như sau:

"Điều 34. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con
1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng."

Theo quy định trên của pháp luật, lao động nữ sẽ được hưởng chế độ nghỉ thai sản kéo dài 06 tháng, trong đó thời gian nghỉ trước khi sinh con tối đa là 02 tháng. Đối với trường hợp sinh đôi trở lên, người mẹ sẽ được nghỉ thêm 01 tháng cho mỗi con, tính từ con thứ hai trở đi.

Nếu sau khi trở lại làm việc, sức khỏe người lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc, họ sẽ được nghỉ dưỡng sức trong khoảng thời gian từ 05 đến 10 ngày, tùy thuộc vào hình thức sinh.

 

3.2. Mức hưởng chế độ thai sản khi sinh con thứ 3 của người lao động

Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định tại Điều 38, 39 thì mức hưởng chế độ thao sản của lao động nữ khi sinh con được tính như sau:

  • Trợ cấp một lần khi sinh con: Lao động nữ khi sinh con hoặc người lao động khi nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.
  • Đối với thời gian nghỉ sinh: Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì chỉ được hưởng các chế độ như khám thai, thai chết lưu, nạo hút thai, sẩy thai, phá thai bệnh lý, thời gian nghỉ sinh;
  • Nghỉ dưỡng sức: Trong trường hợp người lao động nghỉ dưỡng sức, mỗi ngày người lao động nghỉ sẽ được hưởng là 30% mức lương cơ sở.

 

4. Những trường hợp sinh con thứ ba nhưng không vi phạm pháp lệnh về dân số

Điều 2 của Nghị định 20/2010/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi Điều 1 của Nghị định 18/2011/NĐ-CP để quy định các trường hợp đặc biệt sinh con thứ ba nhưng không vi phạm cụ thể như sau:

"Điều 2. Những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con
1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.
3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.
4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.
5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.
6. Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):
a) Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ);
b) Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.
7. Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh."

Theo đó thì các trường hợp giáo viên sinh con thứ ba thuộc vào các trường hợp nêu trên thì sẽ không vi phạm vào quy định về pháp lệnh dân số. 

Như đã biết, việc sinh con ảnh hưởng lớn đến dân số và chất lượng cuộc sống của con người. Nếu gia đình sinh quá nhiều con, sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế và cuộc sống của họ. Vì vậy, chính phủ đã khuyến khích gia đình chỉ nên sinh tối đa 2 con để đảm bảo cuộc sống tốt hơn. Dù chính phủ cũng không nghiêm cấm việc các gia đình có nhiều hơn hai con nhưng việc sinh con cũng cần có kế hoạch để đảm bảo chất lượng đời sống cho các bé. Các bậc phụ huynh cũng không nên sinh con chỉ để có thêm con trai với tư tưởng trọng nam khinh nữ và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỉ lệ giới trong xã hội.