1. Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
Vấn đề này được đề cập đến tại văn bản 02/GĐ-TANDTC năm 2016 để giải đáp về các vấn đề liên quan đến tố tụng hành chính và tố tụng dân sự do Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Theo hướng dẫn này, quyết định hành chính, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015, là đối tượng của kiện vụ án hành chính và được hiểu như sau: Quyết định hành chính là một loại văn bản được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành, hoặc được người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành. Quyết định này liên quan đến vấn đề cụ thể trong quá trình quản lý hành chính và chỉ áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quyết định hành chính bị kiện khi nó phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân. Nó cũng bị kiện nếu có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Quyết định hành chính được định nghĩa là biện pháp giải quyết công việc của chủ thể quản lý hành chính trong bối cảnh cụ thể, là phản ứng của chủ thể quản lý hành chính Nhà nước trước tình huống đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước theo thẩm quyền được quy định bởi pháp luật. Nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là ban hành quyết định hành chính để xây dựng, điều chỉnh chính sách, quy định, hoặc thực hiện sửa đổi, và cũng có thể do những người đảm nhiệm chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định. Quyết định hành chính là kết quả của việc thể hiện ý chí của quyền lực nhà nước bởi cơ quan hành chính Nhà nước hoặc những người đảm nhiệm chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định. Đặc điểm của quyết định hành chính không chỉ bao gồm những đặc điểm riêng của một quyết định hành chính, mà còn chứa đựng những đặc điểm chung của một quyết định pháp luật.
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không?
Theo quy định tại khoản 16 của Điều 3 trong Luật đất đai năm 2013, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý đầy đủ để giải quyết các mối quan hệ liên quan đến đất đai, đồng thời là nền tảng pháp lý mà Nhà nước sử dụng để công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất của các chủ sở hữu. Giấy chứng nhận này là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định người có quyền sử dụng đất và chủ sở hữu của các tài sản liên quan đến đất, thông qua thông tin được ghi trên trang bìa hoặc trang ghi chú về biến động. Từ giấy chứng nhận này, phát sinh các nghĩa vụ đối với chủ sở hữu đất liên quan đến việc bảo vệ quyền sử dụng đất khi bị xâm phạm bởi người khác, bảo vệ lợi ích hợp pháp về đất đai của họ. Nó không chỉ đưa ra nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất mà còn hỗ trợ họ trong việc nhận được đền bù khi đất của họ bị thu hồi. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vai trò quan trọng trong việc xây dựng các quyết định cụ thể, chẳng hạn như các quyết định đăng ký và theo dõi biến động, kiểm soát các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai.
Dựa vào các quy định trên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được coi là một quyết định hành chính; nếu nó rơi vào một trong những trường hợp được quy định tại khoản 2 của Điều 3 trong Luật tố tụng hành chính năm 2015, thì nó sẽ là đối tượng của kiện vụ án hành chính.
Tuy nhiên, vẫn có một số ý kiến không đồng tình với quan điểm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Quyết định hành chính đại diện cho biện pháp giải quyết các công việc của chủ thể quản lý hành chính trước những tình huống cụ thể, là sự phản ứng của chủ thể quản lý hành chính Nhà nước khi đối mặt với các tình huống đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước theo thẩm quyền được quy định bởi pháp luật. Việc ban hành quyết định hành chính là nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhằm xây dựng, điều chỉnh chính sách, quy định, hoặc của những người có chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định. Quyết định hành chính là kết quả của sự thể hiện ý chí của quyền lực nhà nước, được thể hiện thông qua cơ quan hành chính Nhà nước hoặc những người đảm nhiệm chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định. Các tổ chức và cá nhân mong muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 99 của Luật Đất đai 2013. Việc Nhà nước đề ra các điều kiện này không chỉ nhằm mục đích đảm bảo tính hợp pháp về đất đai mà còn thể hiện sự khác biệt so với quyết định hành chính, bởi Nhà nước không hoàn toàn áp đặt ý chí quyền lực của mình. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một biểu hiện của mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân hoặc tổ chức, được xác định đầy đủ và rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp này mô tả các nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân trong hệ thống pháp luật, bao gồm việc công nhận và tôn trọng quyền con người và quyền công dân, xác định mối quan hệ bình đẳng và tương hỗ giữa Nhà nước và cá nhân, giới hạn quyền con người và quyền công dân dựa trên luật định, nghĩa vụ pháp lý, và cơ chế đảm bảo thực hiện quyền con người và quyền công dân. Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư pháp lý mà Nhà nước công nhận về tính hợp pháp của việc sử dụng đất đai cho cá nhân và tổ chức. Khác với quyết định hành chính, quá trình này không thể hiện sự áp đặt ý chí quyền lực của Nhà nước và do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc đối tượng khởi kiện theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Quan điểm này không được chấp thuận nên vẫn theo quy định pháp luật trước đó.
3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải quyết định cá biệt?
Về mặt lý luận, khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị Tòa án tuyên hủy, nó sẽ mất đi hiệu lực. Tuy nhiên, có sự mâu thuẫn giữa Luật Tố tụng Hành chính và pháp luật về đất đai vì quy định về thủ tục hành chính khi có bản án, quyết định của Tòa án chỉ ghi nhận thẩm quyền kết luận thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không quy định cụ thể thủ tục hành chính sau khi bản án, quyết định tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo hướng dẫn của TAND tối cao, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được coi là một quyết định hành chính và Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định hành chính, có nghĩa là Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, Luật Đất đai 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn không điều chỉnh trường hợp Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ quy định Tòa án kết luận về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong bản án, quyết định có hiệu lực và văn phòng đăng ký đất đai sẽ thực hiện thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dựa trên bản án, quyết định đó. Trong trường hợp không thể thu hồi, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời có phải quyết định hành chính? Nếu có bất cứ thắc mắc nào về vấn đề này hay gặp phải bất kì vấn đề pháp lý nào khác, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết. Trân trọng!