- 1. Quy định của pháp luật về cấm kết hôn trong phạm vi ba đời
- 2. Xác định người có phạm vi ba đời theo quy định của pháp luật.
- 3. Vì sao cấm kết hôn trong phạm vi 3 đời ?
- 4. Xử lí đối với vi phạm quy định các trường hợp cấm kết hôn
- 4.1 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
- 4.2 Xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm về kết hôn
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê.
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Nội dung phân tích
Theo quy định pháp luật chỉ cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi 3 đời. Do đó trường hợp của hai bạn không bị cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Vì vậy, hai bạn hoàn toàn có thể kết hôn với nhau nếu đủ các điều kiện taị điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định khác pháp luật quy định (về tuổi, nam nữ tự nguyện và không mất năng lực hành vi dân sự). Cụ thể
1. Quy định của pháp luật về cấm kết hôn trong phạm vi ba đời
- Theo Khoản 17 và Khoản 18 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
Điều 3: Giải thích từ ngữ
......
“17. Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.
18. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.”
......
2. Xác định người có phạm vi ba đời theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 18 điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
"18. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba."
Theo đó những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba. Những người từ đời thứ tư trở đi mới được pháp luật cho phép kết hôn với nhau.
Đối chiếu với các quy định trên thì ông nội của bạn và ông ngoại của người yêu bạn hai anh em ruột nên:
- Ông bà Cố của hai bạn là đời thứ nhất.
- Ông nội, Ông ngoại của hai bạn là anh em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha nên là đời thứ hai.
- Bố mẹ của hai bạn là anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì nên là đời thứ ba.
- Hai bạn là đời thứ tư.
3. Vì sao cấm kết hôn trong phạm vi 3 đời ?
Hiện nay, không chỉ những người trong phạm vi 3 đời không được kết hôn với nhau mà những người cùng dòng máu về trực hệ (là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau) cũng không được kết hôn với nhau. Lý giải về điều này, chủ yếu là do những vấn đề về di truyền. Theo các nhà khoa học, hôn nhân trong phạm vi 3 đời được gọi là hôn phối gần. Khi những người này kết hợp với nhau, sẽ tạo điều kiện cho những gen lặn của vợ chồng kết hợp với nhau, dễ sinh con ra mắc các chứng bệnh nguy hiểm, quái thai, giảm thích nghi với điều kiện sống… gây suy thoái nòi giống.Hiện nay, quan hệ trong phạm vi 3 đời vẫn còn xảy ra rải rác ở khu vực sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Và có thể dễ dàng nhìn thấy sự suy thoái nòi giống ở những khu vực này, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Theo các kết quả nghiên cứu của y học hiện đại liên tục được đưa ra, thì kết hôn với người có máu trực hệ hay phạm vi 3 đời sẽ gây ra nhiều tác hại, dễ đẻ con bị mắc các chứng bệnh rất nguy hiểm, được thể hiện ở các khía cạnh sinh sản, sinh trưởng phát triển cụ thể như: Dị dạng về mặt cấu trúc cơ thể, não bộ; giảm, mất khả năng sinh sản của thế hệ sau; giảm trọng lượng sơ sinh đối với con chung; giảm tốc độ sinh trưởng; là lý do gây ra hiện tượng quái thai; giảm khả năng kháng bệnh, tư duy; giảm khả năng thích nghi với điều kiện sống.
Hôn nhân cận huyết thống là hôn nhân nội tộc, là hôn nhân giữa các cặp vợ chồng trong cùng một họ hàng, hay nói cách khác là hôn nhân giữa những người có cùng dòng máu trực hệ. Những người có họ trong phạm vi 3 đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.
Ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên phổ biến nhất là hôn nhân giữa con cô – con cậu; con dì – con già; con chú – con bác, tức là hôn nhân giữa con của anh hoặc em trai với con của chị hoặc em gái. Hôn nhân cận huyết thống còn phổ biến ở nhiều vùng, nhiều dân tộc. Trong đó, đáng báo động nhất là một số dân tộc vùng cao, vùng sâu như Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê đê, Chu Ru, đặc biệt là các dân tộc Si La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Rơ Mân, Brâu (Kon Tum) là những dân tộc mà dân số không quá 1.000 người nên xuất hiện tình trạng hôn nhân cận huyết tràn lan. Thực tế y học đã chứng minh, hôn nhân cận huyết thống tạo cho những gen lặn bệnh lý ở chồng và vợ có điều kiện kết hợp với nhau sinh ra con dị dạng hoặc mắc các bệnh di truyền như đao, bại não, mù màu, bạch tạng, da vảy cá, đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh Thalas- semia (Thal).
Theo số liệu thống kê, những đứa trẻ được sinh ra từ những ông bố bà mẹ có hôn nhân cận huyết thống có nguy cơ mắc các bệnh máu cao gấp 10 lần so với những trẻ bình thường khác. Điển hình của các bệnh máu này là Thalassemia (tan máu di truyền) và Hemophilia (rối loạn đông máu di truyền). Hai thể bệnh tan máu bẩm sinh α và β Thal Thal là bệnh tan máu bẩm sinh, do di truyền gen lặn, có đặc điểm chung là nồng độ thalassemia giảm. Trong đó sự tổng hợp globin của phân tử hemoglobin trong hồng cầu bị giảm hoặc mất hẳn, dẫn đến tổn thương hồng cầu trong máu bệnh nhân có kích thước nhỏ, tan máu nặng và sự sinh hồng cầu không hiệu quả ở tủy xương. Nguyên nhân gây những bệnh này là do những người trong cùng dòng họ có khả năng mang gen bệnh cao hơn bình thường mà bản thân họ không biết mình mang gen bệnh nên kết hôn cận huyết thống sẽ xảy ra hiện tượng kết hợp các gen mang bệnh của bố mẹ và gây bệnh cho con. Khả năng di truyền Thalassemia là bệnh di truyền dạng lặn của nhiễm sắc thể thường, đối với những cặp vợ chồng mang gen bệnh sẽ gây bệnh cho tất cả các con ở thế hệ tiếp theo với những dấu hiệu đặc trưng như da xanh xao (do thiếu máu), mũi tẹt, khuôn mặt bị biến dạng, bụng phình to, nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị sớm, đúng cách.
Ngoài những bệnh lý về máu, hôn nhân cận huyết thống còn gây ra rất nhiều bệnh lý khác như đao, mù màu, bạch tạng, da vảy cá… làm suy giảm chất lượng giống nòi và tạo gánh nặng cho gia đình, xã hội. Do vậy, một trong những biện pháp làm giảm số trẻ mắc những bệnh di truyền nguy hiểm này là tuyên truyền, giáo dục, đưa quy định cấm vào pháp luật để giúp cho người dân có những hiểu biết cần thiết về hậu quả của hôn nhân cận huyết thống cũng như ngăn ngừa hủ tục này tại các dân tộc vùng cao thiểu số.
4. Xử lí đối với vi phạm quy định các trường hợp cấm kết hôn
Vấn đề xử lý việc kết hôn trái pháp luật sẽ được tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án sẽ tiến hành hủy việc kết hôn trái pháp luật khi có yêu cầu. Đối tượng có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định cụ thể tại Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bao gồm:
4.1 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn.
4.2 Xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm về kết hôn
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
+ Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
+ Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
+ Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
+ Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
+ Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;
+ Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;
+ Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
- Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Hôn nhân và gia đình.