1. Các cháu có được kết hôn khi nai bà ngoại là chị em ruột?

Xin chào Công ty Luật TNHH Minh Khuê, cho tôi hỏi: tôi và em ấy yêu nhau nhưng bà ngoại của cô ấy và bà ngoại tôi là hai chị em ruột. Vậy không biết chúng tôi có lấy nhau được không? Xin được giúp đỡ từ phía công ty, tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện đăng ký kết hôn thì hai bạn muốn đăng ký kết hôn thì hai bạn phải đáp ứng được đồng thời tất cả các điều kiện sau:

Một là, đủ tuổi kết hôn theo quy định. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.

Hai là, việc kết hôn do hai bên nam và nữ tự nguyện quyết định không bị ép buộc, cưỡng ép hay lừa dối.

Ba là, cả hai bên nam và nữ không bị mất năng lực hành vi dân sự. Trong đó, căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự: Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Bốn là, việc kết hôn không thuộc các điều cấm của luật được quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:

+ Kết hôn giả tạo (là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình);

+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn. Trong đó: Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ. Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời.

Dẫn chiếu đến các khoản 17, 18 và 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, bạn và bạn gái bạn yêu nhau nhưng bà ngoại của cô ấy và bà ngoại của bạn là hai chị em ruột. Do đó, phạm vi ba đời của hai bạn sẽ được tính như sau:

Đời thứ nhất: Ông bà sinh ra hai bà ngoại của các bạn.

Đời thứ hai: Bà ngoại của bạn và bà ngoại của bạn gái bạn.

Đời thứ ba: Mẹ của bạn và mẹ của bạn gái bạn.

Đời thứ tư: bạn và bạn gái bạn.

Theo đó, hai bạn đã là đời thứ tư nên không thuộc trường hợp cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Do đó, nếu các bạn đáp ứng tất cả các điều kiện kết hôn theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hai bạn có thể đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn giữa hai bạn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, tức là hai bạn phải đến trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn để đăng ký kết hôn theo quy định. Trong trường hợp hai bạn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì cuộc hôn nhân giữa hai bạn không có giá trị pháp lý và giữa hai bạn không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

>> Tham khảo: Điều kiện kết hôn với sĩ quan quân đội như thế nào theo luật mới?

 

2. Có được kết hôn với con người cùng cha khác mẹ không?

Chào luật sư, tôi và anh K là anh em cùng cha khác mẹ, tôi 25 tuổi anh K 60 tuổi, tôi lại thương M (M là con anh K), hiện nay M 27 tuổi. Theo vai vế M phải gọi tôi bằng cô, vậy tôi có thể đi đăng ký giấy kết hôn với M được không? Mong nhận được hồi âm từ phía luật sư, tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện đăng ký kết hôn:

"Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính."

Như vậy, khi hai bạn muốn đăng ký kết hôn thì phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

- Đủ tuổi kết hôn theo quy định. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.

- Việc kết hôn do hai bên nam và nữ tự nguyện quyết định không bị ép buộc, cưỡng ép hay lừa dối.

- Cả hai bên nam và nữ không bị mất năng lực hành vi dân sự.

Trong đó, căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự:

"Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện."

Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn:

Theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:

+ Kết hôn giả tạo (là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình);

+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn. Trong đó: 

Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. 

Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ. 

Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ. Trong đó, những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn và anh K là anh em cùng cha khác mẹ, bạn hiện nay 25 tuổi, anh K 60 tuổi, bạn lại thương M (M là con anh K), hiện nay M 27 tuổi. Theo vai vế M phải gọi bạn bằng cô, chính vì vậy, bạn và M có thể sẽ thuộc trường hợp những người có họ trong phạm vi ba đời. Trong đó: 

Đời thứ nhất là bố, mẹ bạn sinh ra bạn và anh K.

Đời thứ hai là bạn và anh K (giữa bạn và anh K là anh em cùng cha khác mẹ).

Đời thứ ba là M và con của bạn (nếu có).

Như vậy, giữa bạn và M vẫn còn đang trong phạm vi ba đời, là những người có họ tronng phạm vi ba đời nên hai bạn chưa thể đăng ký kết hôn theo quy định vì thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định.

 

3. Thủ tục điều kiện kết hôn tại nước ngoài

Thưa luật sư em có một thắc mắc mong luật sư giải đáp ạ: Em là du học sinh Nhật Bản nhưng hiện tại thì em đã nghỉ học Visa của em đến tháng 7/2015 thì hết hạn. Bạn trai em là người Hàn Quốc nhưng sinh sống tại Nhật Bản vì sang tháng em phải về nước lên em muốn đăng ký kết hôn tại nước Nhật Bản trước khi về nước. Cho em hỏi những thủ tục liên quan mà em cần phải làm là gì ạ?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Nếu hai bạn thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Nhật Bản, thủ tục sẽ thực hiện như sau:

Cách thức thực hiện:   Trực tiếp tại trụ sở cơ quan đại diện của Việt Nam ở Nhật Bản.

Thành phần hồ sơ:

Theo điều 20, Nghị định 126/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định về hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, gồm có:

1- Tờ khai xin đăng ký kết hôn theo mẫu.

2- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ; giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó là người không có vợ hoặc không có chồng. Trường hợp pháp luật nước ngoài không quy định việc cấp giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy xác nhận tuyên thệ của người đó hiện tại không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó;

3- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

4- Đối với công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam;

5-  Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú (đối với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước), Thẻ thường trú hoặc Thẻ tạm trú hoặc Chứng nhận tạm trú (đối với người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam kết hôn với nhau).

Ngoài giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, bên nam, bên nữ phải nộp giấy tờ tương ứng sau đây:

- Đối với công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến bảo vệ bí mật nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành đó;

- Đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thì còn phải có giấy tờ chứng minh về tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

- Đối với người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam thì còn phải có giấy xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp, trừ trường hợp pháp luật của nước đó không quy định cấp giấy xác nhận này.

Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)

Thời hạn giải quyết:

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Cơ quan đại diện không quá 20 ngày, kể từ ngày Cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí.

Trường hợp Cơ quan đại diện yêu cầu cơ quan trong nước xác minh theo quy định theo quy định của pháp luật thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 35 ngày. 

 

4. Bao nhiêu tuổi khì đủ điều kiện kết hôn?

Thưa luật sư, em sinh năm 1999 và bạn gái em sinh năm 1997. Hiện giờ bọn em muốn làm đám cưới. Luật sư cho em hỏi, nếu chúng em làm đám cưới thì có vi phạm pháp luật không? Và đó là luật gì? Em xin cảm ơn! Người gửi: vo_nh...@gmail.com

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình 1900.6162

 

Trả lời

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, tính tới thời điểm hiện tại, bạn 16 tuổi và bạn gái của bạn là 18 tuổi. Như vậy, bạn chưa đủ tuổi để có thể đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về độ tuổi kết hôn.

Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện kết hôn như sau: 

"Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này."

Như vậy, nếu 2 bạn kết hôn khi chưa đủ tuổi tức là thuộc trường hợp tảo hôn.

Theo quy định tại điều 148 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 (thay thế bởi: Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) thì :

"Điều 148. Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn

Người nào có một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn;

b) Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó."

Nếu xem xét hành vi của bạn có đủ yếu tố cấu thành tội này thì bạn có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, nếu hành vi của bạn chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì theo quy định tạiNghị định 110/2013/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì với hành vi này 2 bạn có thể bị xử phạt hành chính với mức :

"Điều 47. Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về điều kiện kết hôn, gọi:  1900.6162  để được giải đáp.