Định nghĩa Hàng nhẹ

Hàng nhẹ (Measurement cargo) là hàng mà trọng lượng một tấn (1000 kg) có dung tích lớn hơn một mét khối (M3). Giá cước cho nhiều loại hàng nhẹ, theo tập quán, thường được tính trên cơ sở đơn vị dung tích. Ví dụ: một tấn gỗ ván ép có dung tích khoảng 1,7M3 và giá cước tính trên cơ sởM3làl8USD/M3FIOS.

Hàng nhẹ (Measurement rated cargo) là hàng hóa có dơn giá cước được tính trên cư sở dung tích (của hàng hóa) và có đơn vị tính cước là 1 mét khối. Hàng loại này thường là những loại có tỷ khối lớn hơn 1, tức là 1 tấn hàng có thể tích lớn hơn IM3. Ví dụ: bông, đệm mút, dăm gỗ (wood chips)...

Hàng hóa là gì?

Theo định nghĩa của Karl Marx, hàng hóa sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người. Hàng hóa có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất.

Hàng hóa có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể. Từ khái niệm này, ta có thể rút ra kết luận một đồ vật muốn trở thành hàng hoá cần phải thỏa mãn 3 yếu tố:

  • Hàng hóa là sản phẩm của lao động
  • Hàng hóa có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
  • Thông qua trao đổi, mua bán

Hàng hóa có thể được phân thành nhiều loại như:

  • Hàng hóa đặc biệt
  • Hàng hóa thông thường
  • Hàng hóa thứ cấp
  • Hàng hóa hữu hình
  • Hàng hóa vô hình
  • Hàng hóa công cộng
  • Hàng hóa tư nhân

Hai thuộc tính của hàng hóa là gì?

Giá trị sử dụng

Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn một số nhu cầu nào đó của con người. (có thể là nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần, nhu cầu cá nhân, nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất…). Đối với giá trị sử dụng, hàng hóa có các đặc điểm như sau:

  • Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định
  • Hàng hóa không nhất thiết chỉ có một giá trị sử dụng duy nhất. Khi khoa học kỹ thuật càng phát triển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của hàng hóa và sử dụng chúng cho nhiều mục đích khác nhau.
  • Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hoặc mọi kiểu tổ chức sản xuất.
  • Giá trị sử dụng không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà cho người tiêu dùng hàng hóa (xã hội). Người mua có quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa theo mục đích của họ. Hay nói cách khác, sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Giá trị hàng hóa

Trước tiên, để bạn đọc có thể hình dung rõ hơn về khái niệm này, chúng ta sẽ cùng xét một ví dụ đơn giản như sau:

Giả sử một con gà có thể được đổi lấy 10kg táo. Có nghĩa là gà và táo là vật mang giá trị trao đổi. Trong trường hợp này, có hai câu hỏi đặt ra:

Thứ nhất: Tại sao gà và táo là hai loại hàng hóa khác nhau, có giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi với nhau?

Thứ hai: Tại sao chúng ta lại trao đổi theo tỷ lệ nhất định 1:10

Cụ thể trong ví dụ này, hao phí lao động của người nuôi gà sẽ bằng với hao phí lao động của người trồng táo. Hay nói cách khác thời gian lao động xã hội cần thiết để nuôi một con gà sẽ bằng với thời gian lao động xã hội cần thiết để trồng được 10kg táo => 1 con gà có giá trị bằng 10kg táo.

=> Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh bên trong hàng hóa. Giá trị là nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc hai hàng hóa có thể trao đổi được với nhau. Giá trị hàng hóa có những đặc trưng cơ bản như sau:

  • Biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa
  • Là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại ở kinh tế hàng hóa

Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa

Đề trả lời cho câu hỏi “Vì sao hàng hóa có hai thuộc tính” chúng ta sẽ đi vào phân tích mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa:

  • Mặt thống nhất: Hai thuộc tính này tồn tại đồng thời trong một sản phẩm, hàng hóa. Phải có đủ hai thuộc tính này sản phẩm, vật phẩm đó mới được gọi là hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính, thì sản phẩm, vật phẩm không được coi là hàng hóa.
  • Mặt mâu thuẫn: Người sản xuất làm ra hàng hóa để bán, mục đích của họ là mặt giá trị (tức là lợi nhuận) chứ không phải là giá trị sử dụng. Trong tay người bán có giá trị sử dụng, tuy nhiên cái mà họ quan tâm là giá trị hàng hóa. Ngược lại, đối với người mua, họ lại rất cần giá trị sử dụng. Nhưng để có giá trị sử dụng, trước hết họ cần thực hiện giá trị hàng hóa sau đó mới có thể chi phối giá trị sử dụng. Vì vậy mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này chính là quá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa là hai quá trình khác nhau về thời gian và không gian. Quá trình thực hiện giá trị được thực hiện trước (trên thị trường), quá trình thực hiện giá trị sử dụng diễn ra sau (trong tiêu dùng). Nếu giá trị của hàng hóa không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.

Nói tóm lại, giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau.

Quy định về cách tính chi phí vận chuyển

Giá cước vận chuyển hàng hóa đã được chính phủ quy định rõ ràng mà bất cứ công ty vận tải hoặc nhà xe nào cũng phải tuân theo.

Quy định về giá cước vận chuyển hàng hóa tại Việt Nam dựa trên 2 yếu tố là khối lượng hàng hóa và phương thức vận chuyển hàng. Đơn vị tính cước là T.Km.

Theo đó:

  • Khối lượng hàng hóa tính cước là trọng lượng vận chuyển bao bì tính theo tấn (T)
  • Khoảng cách tính cước vận chuyển là khoảng cách thực tế có hàng. Thông thường, khoảng cách tối thiểu là 1km.(Đơn vị tính: km)

Các phương thức vận chuyển hàng hóa hiện nay

Khi muốn vận chuyển hàng hóa bắc nam bạn có thể thử bằng nhiều con đường khác nhau như đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không.

Vận tải đường bộ: Hàng hóa được vận chuyển chủ yếu bằng xe khách, xe tải rất linh hoạt mà giá cả lại phải chăng nên được rất nhiều khách hàng lựa chọn.

Vận tải đường thủy: Tuy không được linh hoạt như phương thức vận chuyển đường bộ nhưng cách vận chuyển này cũng được nhiều người lựa chọn vì giá rẻ và vận chuyển được khối lượng hàng lớn đi xa như xuất khẩu hoặc vận chuyển Bắc Nam.

Vận tải đường sắt: Không được linh hoạt và thời gian vận chuyển hàng hóa lâu chính là điểm trừ khiến cho phương thức vận chuyển hàng hóa này ngày càng có ít người lựa chọn.

Vận tải hàng hóa đường hàng không: Đây là phương thức vận chuyển hàng hóa nhanh nhất hiện nay nhưng khối lượng hàng vận chuyển bị hạn chế và giá thành cao.

Cách tính cước vận chuyển theo phương thức vận chuyển

Tương ứng với 4 phương thức vận chuyển hàng hóa được liệt kê ở trên, cách tính chi phí vận chuyển hàng hóa cũng có sự khác biệt đáng kể.

3.1. Cách tính cước vận chuyển đường bộ

Như đã nói ở trên, quy định về cách tính cước phí vận chuyển hàng hóa dựa trên 2 yếu tố. Áp dụng vào đó có thể có cách tính cước vận chuyển đường bộ như sau:

Cách tính cước vận chuyển đường bộ = Khối lượng hàng hóa X Đơn giá của từng vùng trả hàng so với nơi gửi hàng

Trong đó, khối lượng hàng hóa được tính bằng:

  • Tính khối lượng thực cho các hàng hóa nhẹ cân (tức là công ty vận chuyển sẽ tiến hành cân hàng hóa đó)
  • Tính khối lượng quy đổi cho các hàng hóa nặng, cồng kềnh (áp dụng công thức: (Dài x Rộng x Cao)/5000)
  • Với công thức này thì cách tính cước vận chuyển hàng hóa bằng ô tô sẽ trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

    3.2. Cách tính cước phí vận chuyển đường biển

    Cách tính cước phí vận chuyển đường biển không cố định mà phải căn cứ vào khoảng cách, trọng lượng, hãng tàu, Forwarder (trung gian vận chuyển). Các doanh nghiệp có thể tính chi phí vận chuyển hàng hóa đường biển bằng cách dưới đây.

    Đơn vị tính cước vận chuyển đường biển được áp dụng theo 2 phương thức:

  • Tính theo trọng lượng thực tế của hàng hóa vận chuyển (số kilogram)
  • Tính chi phí vận chuyển hàng hóa theo thể tích của hàng hóa (Cbm : cubic meter hay còn gọi là mét khối): Dựa vào công thức (Dài x Rộng x Cao)
  • Sau đó áp dụng theo quy chuẩn quốc tế sẽ có được cách tính cước phí vận chuyển đường biển như sau:

  • 1 tấn < 3 CBM: hàng hóa nặng, cách tính áp dụng theo bảng giá KGS
  • 1 tấn >= 3 CBM: hàng hóa nhẹ, cách tính áp dụng theo bảng giá CBM
  • Bảng giá cước vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không

    Bảng giá cước vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không được quy định một cách thống nhất tại các biểu cước.

    Được thể hiện một cách chi tiết trong những quy định, quy quy tắc riêng về cách thức tính cước và phát hành biểu cước hàng không TACT (The Air Cargo Tariff) của Hiệp hội vận tải hàng không Quốc tế IATA (International Air Transport Association):

    Cước vận chuyển hàng không = Đơn giá cước x Khối lượng hàng hóa

    Lưu ý khi tính cước vận chuyển đường hàng không sẽ có sự so sánh giữa hai đơn vị đó là KGS và CBM, và toàn bộ được quy về theo KGS.

  • Trọng lượng: Cân nặng thực tế của đơn hàng (ĐVT: KGS)
  • Khối lượng: Cân nặng của đơn hàng sau khi quy đổi từ thể tích (công thức: (dài x rộng x cao)/5000 – ĐVT: KGS)
  • Nếu trọng lượng > khối lượng: Tính cước vận chuyển theo đơn giá KGS
  • Nếu trọng lượng < khối lượng: Tính cước vận chuyển theo đơn giá CBM

Vận chuyển hàng quá khổ là gì?

Nếu từng sử dụng qua các dịch vụ vận chuyển bắc nam có thể bắt gặp nhiều lần câu nói hàng hóa cồng kềnh, hàng hóa nặng và lớn. Cồng kềnh là một tính từ được dùng để mô tả trạng thái dư thừa, quá khả năng chứa (đựng) của phương tiện, vật liệu đóng gói.

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, hàng hóa cồng kềnh dùng chỉ việc chủ xe sắp xếp, bố trí và chở các loại hàng hóa vượt quá bề rộng, bề cao và quá trọng tải của phương tiện vận chuyển. Việc chở hàng hóa cồng kềnh dễ gây ảnh hưởng đến khả năng điều khiển phương tiện của tài xế, thậm chí có thể gây ra tai nạn giao thông, hư hỏng hàng hóa trên xe.

Thế nào là vận chuyển hàng quá khổ, siêu trường

Theo quy định tiêu chuẩn Việt Nam, hàng quá khổ, siêu trường là hàng không thể tháo rời và khi sắp xếp lên phương tiện có một trong các kích thước bao ngoài (của tổ hợp phương tiện và hàng hóa xếp trong phương tiện) như sau:

  • Chiều dài lớn hơn 20m;
  • Chiều rộng lớn hơn 2.5m;
  • Chiều cao tính từ điểm cao nhất của mặt đường xe chạy trở lên lớn hơn 4.2 m, đối với xe chở container là 4.35 m.

Để vận chuyển hàng quá khổ, siêu trường đòi hỏi đơn vị vận chuyển kinh nghiệm, đầy đủ phương tiện vận chuyển an toàn cũng như những kiến thức về vận tải hàng hóa bắc nam để thực hiện tốt việc chuyển nhanh chóng.