1. Khái quát về hành vi đưa người di cư trái phép
Đưa người di cư trái phép – hay còn gọi là đưa người trái phép hoặc đưa trái phép người di cư – là việc di chuyển được tạo thuận lợi và trái phép người di cư qua biên giới vì lợi ích tài chính hoặc lợi ích khác. Các quốc gia cần có các luật mạnh để đấu tranh chống đưa người di cư trái phép và để bảo người di cư bị đưa trái phép. Hiện có 2 văn kiện quốc tế quan trọng thiết lập nên khung luật pháp quốc tế về đưa người di cư trái phép: Nghị định thư về Chống đưa người Di cư trái phép bằng Đường bộ, Đường biển và Đường hàng không (Nghị định thư về Đưa người di cư Trái phép), bổ sung cho Công ước Liên Hợp Quốc chống Tội phạm xuyên Quốc gia có Tổ chức (Công ước về Tội phạm có tổ chức). Đưa người di cư trái phép khác với buôn bán người mà được điều chỉnh bởi Nghị định thư riêng biệt theo Công ước về Tội phạm có tổ chức. Nghị định thư về Đưa người di cư Trái phép yêu cầu các Quốc gia Thành viên hình sự hóa những hành vi vi phạm sau:
- Đưa người di cư trái phép - là việc đưa bấp hợp pháp một người nhập cảnh vào một quốc gia;
- Tạo thuận lợi cho cư trú bất hợp pháp – là việc tạo thuận lợi cho một người ở lại một quốc gia bất hợp pháp, ngay cả khi họ nhập cảnh vào quốc gia đó một cách hợp pháp;
- Giấy tờ liên quan đến đưa người di cư trái phép - ví dụ như làm giả mạo các giấy tờ đi lại như thị thực và các giấy tờ về nhân thân.
Nghị định thư cũng yêu cầu các Quốc gia hình sự hóa các cố gắng để thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên, việc tham gia như kẻ đồng lõa liên quan tới hành vi phạm tội này, và việc tổ chức hoặc chỉ đạo người khác thực hiện những tội phạm đó. Các Quốc gia cần đảm bảo rằng những tội phạm này sẽ chịu hình phạt cao hơn trong trường hợp có các tình tiết tăng nặng như trong trường hợp tính mạng người di cư bị đe dọa. Đưa người di cư trái phép về bản chất là xuyên quốc gia và theo định nghĩa đòi hỏi phải có việc nhập cảnh trái phép qua biên giới một Quốc gia. Do đó, điều quan trọng là các Quốc gia cần đảm bảo rằng thẩm quyền pháp lý ngoài biên giới - hoặc khả năng pháp lý để thực hiện thẩm quyền bên ngoài biên giới lãnh thổ thông thường – được áp dụng cho pháp luật chống đưa người di cư trái phép của mình. Điều này giúp các Quốc gia nhằm vào những kẻ đưa người trái phép và những kẻ tạo thuận lợi mà tiến hành các hoạt động tội phạm qua nhiều quốc gia. Nguồn nuôi dưỡng tội phạm có tổ chức, kể cả đưa người di cư trái phép chính là tiền.
Để giúp các cơ quan thực thi pháp luật tước đi các các nguồn tiền có được từ các hoạt động phạm tội này, các Quốc gia cần có các luật chống rửa tiền và tịch thu tài sản mạnh và riêng biệt. Các Quốc gia cũng cần có các luật hợp tác quốc tế chống tội phạm mạnh, bao gồm cả luật dẫn độ và tương trợ tư pháp. Luật dẫn độ hiệu quả giúp các cơ quan thực thi luật pháp truy tố và xét xử những kẻ tội phạm. Luật tương trợ tư pháp mạnh cho phép các điều tra viên và công tố viên có được và trao đổi chứng cứ giữa các quốc gia như chứng từ ngân hàng, dữ liệu điện thoại và lời khai nhân chứng. Do các nhóm tội phạm có tổ chức liên tục tiến triển, thì điều quan trọng là cộng đồng quốc tế làm việc cùng nhau để đảm bảo rằng các luật được tương thích ở mức độ cao nhất có thể để ngăn ngừa tội phạm lợi dụng các khoảng trống trong các khung pháp lý.
2. Căn cứ pháp lý quốc tế
Các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng Có hai văn kiện quốc tế chính liên quan trực tiếp đến đưa người di cư trái phép: Nghị định thư chống Đưa người Di cư bằng Đường bộ, Đường biển và Đường hàng không, bổ sung Công ước Liên Hợp Quốc về chống Tội phạm có Tổ chức Xuyên quốc gia (Nghị định thư chống Đưa người Di cư Trái phép)
Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên và có ảnh hưởng nhất về đưa người trái phép. Văn kiện này có hiệu lực từ ngày 28 tháng 01 năm 2004.
Nghị định thư là văn kiện phụ của một hiệp định cụ thể hóa những điểm mà hiệp định chỉ nói khái quát và nêu lên phương thức và các biện pháp thi hành. Đây một loại điều ước quốc tế được kí kết giữa các nước về một vấn đề nào đó liên quan tới các quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, vv.
Nghị định thư yêu cầu các Quốc gia hình sự hóa đưa người di cư trái phép như đã được xác định trong văn kiện đó. Công ước Liên Hợp Quốc chống Tội phạm có Tổ chức Xuyên quốc gia (Công ước về Tội phạm có Tổ chức) Đây là văn kiện quốc tế chính trong đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Văn kiện này có hiệu lực từ ngày 29 tháng 9 năm 2003. 3 Để trở thành thành viên của Nghị định thư về Đưa người Di cư Trái phép, các quốc gia phải là thành viên của Công ước về Tội phạm có Tổ chức.
3. Định nghĩa“đưa người di cư trái phép”
Thuật ngữ “đưa người di cư trái phép” được định nghĩa tại Điều 3(a) và (b) của Nghị định thư về Đưa người Di cư Trái phép:
“Đưa người di cư trái phép” có nghĩa là việc giao dịch để đạt được trực tiếp hoặc gián tiếp lợi ích về tài chính hoặc lợi ích vật chất khác từ việc một người nhập cảnh trái phép vào một Quốc gia Thành viên mà người này không phải là công dân hoặc hoặc thường trú nhân tại quốc gia đó.
“Nhập cảnh trái phép” có nghĩa là vượt biên giới mà không tuân thủ các quy định hợp pháp cần thiết về nhập cảnh vào nước tiếp nhận. Hình 1 bên dưới mô tả sự kết hợp của các yếu tố cấu thành nên hành đưa người di cư trái phép.
Sự kết hợp của 3 yếu tố trong Hình 1 tạo thành hành tội phạm đưa người di cư trái phép. Một người cố ý tham gia dù là trực tiếp hay gián tiếp trong việc đưa người di cư trái phép thì được gọi là kẻ đưa người trái phép. Một người được kẻ đưa người trái phép giúp đỡ nhập cảnh trái phép vào một quốc gia thì được gọi là người di cư bị đưa trái phép. Mặc dù kẻ đưa người trái phép và người di cư tham gia vào thỏa thuận để tiến hành đưa người trái phép, mục tiêu của Nghị định thư không phải nhắm vào việc di cư trái phép mà để đấu tranh với tội phạm có tổ chức của việc đưa người trái phép.
4. Hành vi phạm tội đưa người di cư trái phép – nhập cảnh bất hợp pháp
Theo định nghĩa tại Điều 3 của Nghị định thư về Đưa người Di cư Trái phép, hành vi phạm tội đưa người di cư trái phép phải bao gồm các yếu trên. Điều quan trọng, trọng tâm của tội phạm đưa người di cư trái phép là việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập cảnh trái phép chứ không phải hành vi nhập cảnh trái phép. Nhập cảnh trái phép được định nghĩa tại Điều 3 (b) của Nghị định thư về Đưa người Di cư Trái phép là “vượt biên không tuân thủ các quy định cần thiết cho việc nhập cảnh hợp pháp vào Quốc gia tiếp nhận”. Ví dụ, điều này bao gồm việc tạo thuận lợi cho việc nhập cảnh của một cá nhân vào một quốc gia mà cá nhân đó không có thị thực hợp lệ mà quốc gia đó quy định hoặc các giấy tờ khác có giá trị do quốc gia đó cấp cho phép nhập cảnh. Các yếu tố “lợi ích tài chính hoặc lợi ích vật chất khác” được giải thích rộng rãi. Ví dụ, lợi ích có thể gao gồm cả đút lót phi tài chính (ví dụ lợi thế, đặc quyền, tình dục hoặc các dịch vụ khác ) nảy sinh từ đưa người di cư trái phép.
5. Tội tạo thuận lợi cho cư trú bất hợp pháp
Không giống như hành vi phạm tội đưa người di cư trái phép ở trên - hành vi tạo thuận lợi cho việc nhập cảnh trái phép vào một quốc gia, hành vi phạm tội này này liên quan tới việc tạo thuận lợi cho việc ở lại bất hợp pháp ở một quốc gia. Nghị định thư về Đưa người Di cư Trái phép yêu cầu các Quốc gia hình sự hóa hành vi tạo thuận lợi cho việc cư trú bất hợp pháp vì lợi nhuận (Điều 6.1(c)). Hành vi phạm tội “tạo thuận lợi cho cư trú bất hợp pháp” bao gồm các yếu tố sau:
- Giúp người khác ở lại một Quốc gia;
- Nơi mà người đó không phải là công dân hay thường trú nhân của Quốc gia đó và người đó không tuân thủ các quy định cho việc ở lại hợp pháp tại Quốc gia đó;
- Để đạt được, trực tiếp hoặc gián tiếp, lợi ích về tài chính hoặc vật chất;
- Khi thực hiện một cách cố ý.
Hành vi tạo thuận lợi cho việc cư trú bất hợp pháp bao gồm những tình huống khi những nhóm đưa người trái phép giúp đỡ người di cư nhập cảnh hợp pháp nhưng sử dụng các phương tiện bất hợp pháp để tạo thuận lợi cho những người được đưa vào ở lại nước đó. Ví dụ, một kẻ đưa người di cư trái phép có thể thu xếp làm thị thực kinh doanh tạm thời có giá trí và các dịch vụ có liên quan cho người di cư nhưng trên cơ sở gian lận mặc dù biết rằng những người di cư này có ý định ở lại lâu dài tại quốc gia đến. Kẻ đưa người thu được lợi nhuận khổng lồ bằng việc thu phí từ người di cư cho dịch vụ này .
6. Các tội liên quan tới giấy tờ
Nghị đinh thư về Đưa người Di cư Trái phép yêu cầu các Quốc gia ban hành các hành vi vi phạm về giấy tờ (Điều 6.1 (b)). Đặc biệt, các Quốc gia phải hình sự hóa việc sản xuất, mua bán, cung cấp hoặc sở hữu các giấy tờ thông hành hay nhân thân giả mạo vì mục đích tạo thuận lợi cho đưa người di cư trái phép. Các hành vi phạm tội về giấy tờ rất hữu ích trong cuộc chiến chống đưa người di cư trái phép vì chúng cho phép truy tố những người giữ vai trò quan trọng trong các nhóm đưa người di cư trái phép nhưng họ không trực tiếp tham gia vào các hành vi vận chuyển người di cư bất hợp pháp qua biên giới quốc gia.
Thuật ngữ “giấy tờ thông hành hoặc nhân thân giả mạo” bao gồm tất cả các giấy tờ do các Quốc gia cấp như hộ chiếu, thị thực và chứng minh thư. Thuật ngữ này cũng được định nghĩa rộng và bao gồm các giấy tờ được làm hoặc sản xuất giả, cũng như các giấy tờ thật nhưng đã bị sửa đổi bằng cách nào đó. Giấy tờ giả mạo cũng bao gồm các giấy tờ thật nhưng được cấp hoặc có được qua đơn xin cấp không đúng mục đích thực, tham nhũng hoặc ép buộc