1. Khái niệm hành vi thương mại

1.1 Khái quát chung

Trong khoa học pháp lý, hành vi thương mại thường được phân biệt với hành vi dân sự, có nghĩa chúng đều là các hành vi pháp lý làm phát sinh ra hậu quả pháp lý bởi ý chí của đương sự. Như vậy hành vi thương mại là hành vi pháp lý có tính chất thương mại. Nói cách khác, hành vi pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý trong lĩnh vực thưong mại hay làm phát sinh quan hệ pháp luật thưong mại là hành vi thưong mại. Tuy nhiên vân đê' trở nên phức tạp ở chỗ phân biệt thế nào giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại. Câu trả lời có thể được đặt phần nào ở việc xác định phạm vi của lĩnh vực thương mại.
Hành vi thương mại là gì? Các yếu tố của hành vi thương mại?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807 đã đưa ra một định nghĩa truyêh thống vê' thương nhân mà nhiều Bộ luật Thương mại của các nước trên thế giới cũng theo hình mẫu đó, và các luật gia thường lây nó để xác định thương nhân và giải nghĩa cho hành vi thương mại. Điều 1 của Bộ luật này quy định: "Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại và lây chúng làm nghê' nghiệp thường xuyên của mình". Như vậy hành vi thương mại được giải thích trong môì tương quan với thương nhân. Theo khuynh hướng này, nhưng có phần khác biệt Luật Thương mại của Việt Nam định nghĩa: "Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan". Theo định nghĩa này, mọi hành vi thương mại đều phụ thuộc vào thương nhân.

1.2 Hành vi thương mại bao gồm như thế nào

"Hành vi thương mại theo quy định của Luật này gổm:
1 - Mua bán hàng hoá;
2 - Đại diện cho thương nhân;
3 - Môi giới thương mại;
4 - Uỷ thác mua bán hàng hoá;
5 - Đại lý mua bán hàng hoá;
6 - Gia công trong thương mại;
7 - Đâù giá hàng hóa;
8 - Đâu thầu hàng hoá;
9 - Dịch vụ giao nhận hàng hoá;
10 - Dịch vụ giám định hàng hoá;
11 - Khuyến mại;
12 - Quảng cáo thương mại;
13 - Trung bày giới thiệu hàng hoá;
14 - Hội chợ, triển lãm thương mại".
Việc xác định như vậy đã làm bó hẹp các hành vi thương mại thành các hành vi mua - bán hàng hoá và các dịch vụ thương mại liên quan đêh mua - bán hàng hoá, và chỉ nói tới hành vi thương mại do bản châ't. Nguyên nhân chủ yêù của việc xác định hạn hẹp như vậy là do nước ta chưa kịp thời tiến hành một cuộc cải cách pháp luật nên dẫn tới còn có râ't nhiều ý kiên băn khoăn về đôì tượng, phạm vi điều của luật thương mại trong tương quan với Pháp lệnh Hợp đổng kinh tế 1989 của cơ chê'kinh tế cũ.
Theo Bộ luật Dân sự của Italy thì phạm vi của hành vi thương mại được xác định trong các lĩnh vực sản xuất, hoặc buôn bán hàng hoá hoặc dịch vụ . Bộ luật Thương mại Pháp cũng đã liệt kê một cách râ't rộng lớn các hành vi thương mại trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông tại Điều 632.
Trong khoa học kinh tế hiện nay, người ta thường chia hoạt động kinh doanh thương mại ra ba lĩnh vực, tạm gọi là: 1) buôn bán; 2) sản xuâ't; 3) dịch vụ . Trong lĩnh vực dịch vụ bao gổm: các dịch vụ vui chơi giải trí; các dịch vụ cá nhân như: cắt tóc, nhà hàng, khách sạn, vận tải...; các dịch vụ tài chính như: bảo hiểm, ngân hàng, đầu tư... Vậy thương mại ngày nay không chỉ là buôn bán hàng hoá, dịch vụ. Các nước thành viên Liên hiệp quốc xem thương mại bao gồm hầu hết các dạng hoạt động kinh tế . Uỷ ban Liên hiệp quôc về luật thương mại quốc tế đã xác định trong đạo luật mẫu về thương mại điện tử do Uỷ ban này soạn thảo như sau:
"Thuật ngữ "thương mại"/commerce/cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vân đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính châ't thương mại, dù có hay không có hợp đổng. Các môi quan hệ mang tính thương mại /commercial/ bao gồm, nhưng không phải chỉ bảo gồm, các giao dịch sau đây: bâ't cứ giao dịch thương mại nào về cung cap hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vân; kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cap vôh; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".
Qua đó, người ta nhận thâỳ một khuynh hướng khách quan trong việc xem xét tính châ't của hành vi thương mại. Nó không còn được gắn với hay lệ thuộc vào thương nhân nhiều nữa. Các hành vi thương mại thuần tuý thường được liệt kê rõ ràng như trong Điều 501 của Bộ luật Thương mại Nhật Bản, Điều 632 của Bộ luật Thương mại Pháp.
Cho đêh nay, người ta vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa có tính cách khoa học đối với hành vi thương mại ngoài cách thức liệt kê. Nhưng đã có nhiều công trình nghiên cứu làm rõ được phần nào các yếu tố của một hành vi thương mại.
Trong nền kinh tê'thị trường, các thương nhân tham gia tìm kiêm lợi nhuận thông qua việc sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hoá. Vậy về nguyên tắc, các hành vi được thực hiện trong mối quan hệ Tiền- Hàng- Tiền mà được biểu diễn một cách cụ thể bằng công thức T- H- T'.

1.3 Các yếu tố của hành vi thương mại

Về mặt pháp lý, người ta phân tích hành vi thương mại thành hai yêu tô' hay nói cách khác hành vi thương mại có hai yêù tố là mua vào và bán ra.
(1) Mua vào
Đây là một yêù tố khởi đầu để tạo nên hành vi thương mại. Người ta có thể mua vào hàng hóa rồi bán ra chính hàng hóa đó hoặc có thể gia công thêm như bao gói, chia nhỏ, chê' biên, sửa chữa, bổi đắp, hoặc gia cô'lại... rồi bán. Người ta cũng có thể mua vào vật liệu, sức lao động, công cụ để làm ra dịch vụ để bán ra.
Mặc dù nông dân bán các sản phẩm do mình làm ra không phải là một hành vi thương mại. Nhưng nếu hoạt động này có quy mô lớn, sử dụng máy móc làm lúa gạo hay chăn nuôi để bán thì được xem là hành vi thương mại bởi yêù tô' mua vào và bán ra có mối liên hệ nội tại vói nhau.
Cho đến nay vẫn còn có những tranh luận về những nghề nghiệp tự do như luật sư, bác sỹ... có phải là những nghề nghiệp thương mại hay không bởi có lẽ sự bán ra ít có môì liên hệ với những gì mua vào.
(2) Bán ra
Nếu một người mua hàng hoá về để tiêu dùng thì hành vi này không có tính cách thương mại mà là hành vi dân sự.
Trong kinh doanh, việc mua vào và bán ra không nhâ't thiết phải theo trật tự mua vào trước, và bán ra sau mà nhiều trường hợp có nơi để bán rồi, thương nhân mới mua hàng hoá vào hoặc mới sản xuất, gia công .
Hành vi mua bán hàng hoá nhằm mục đích kiêm lời. Song việc có lời hay không trên thực tê' không phải là yếu tô' để xem xét mà người ta chỉ xem xét đến khía cạnh chủ quan của người buôn bán.
Thuật ngữ bán ra ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc cho thuê các đổ vật mà người cho thuê đã mua vào hay đã thuê về nhằm mục đích kiếm lời. Đôi khi người ta bắt gặp cả đổì tượng của sự thuê mướn là các tài sản vô hình là các quyền. Vậy hành vi thuê lại (sub - lease) thường là hành vi thương mại.
Luật Thương mại 2005 của Việt Nam đã thay thuật ngữ hành vi thương mại bằng một từ ngữ đời thường là hoạt động thương mại, và dường như xác định rằng bâ't kỳ hành vi nào của thương nhân có mục đích kiêh lời đều được xem là hoạt động thương mại. Điều 29 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 của Việt Nam cũng có khuynh hướng quan niệm như vậy.

2. Phân loại hành vi thương mại

2.1 Theo Francis Lemeunier

pháp luật của Pháp chia các hành vi thương mại ra làm ba loại:
- Các hành vi thương mại do bản châ't;
- Các hành vi thương mại do hình thức;
- Các hành vi thương mại do phụ thuộc.
Các hành vi thương mại do bản chất được phân định thành hai loại: Thứ nhất là các hành vi được coi là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được thực hiện một cách riêng rẽ; Thứ hai là các hành vi chỉ được coi là hành vi thương mại trong trường hợp do thương nhân thực hiện.
Các hành vi thương mại do hình thức là các hành vi được coi là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được những người không phải là thương nhân thực hiện. Các hành vi này bao gồm hành vi lập hôì phiêù, hành vi của các công ty thương mại...
Các hành vi thương mại phụ thuộc là các hành vi phụ thuộc vào hoạt động thương mại hoặc các thương gia như các trái vụ giữa các thương nhân với nhau .

2.2 Bộ luật thương mại Bỉ

Bộ luật Thương mại Bi quy định có hai loại hành vi thương mại:
1) hành vi thương mại do bản châ't;
2) hành vi được coi là hành vi thương mại bởi chúng được các thương nhân thực hiện trong phạm vi nghề nghiệp của họ.

2.3 Bộ luật thương mại Tây ban nha

Trong khi đó, Bộ luật Thương mại Tây Ban Nha xây dựng một tiêu chí để đánh giá một hành vi được coi là hành vi thương mại dựa vào bản châ't bên trong của hành vi. Điều 2 của Bộ luật này quy định: "Những hành vi thương mại được coi là những hành vi được bao gồm trong Bộ luật này và bâ't kỳ luật nào khác có cùng một bản châ't", và tiếp đó có quy định: "Những hành vi thương mại, không kể có do thương nhân thực hiện hay không, và không được quy định tại Bộ luật này, được điều chỉnh bởi các quy định ở đây". Các quy định này nhấn mạnh rằng các hành vi thương mại được xem là trung tâm điểm của vân để lập pháp ở Tây Ban Nha và nhâh mạnh tới sự phân tách giữa hành vi và người thực hiện chúng .
Vậy có thể nói có một số quan điểm khác nhau về phân loại hành vi thương mại. Luật Thương mại 2005 của Việt Nam không tiến tới cách phân loại hành vi thương mại.
Về mặt học thuật người ta có thể chia hành vi thương mại thành hành vi thương mại thuần tuý và hành vi thương mại phụ thuộc.
Các hành vi thương mại thuần tuý là các hành vi mà bản chất của nó có tính cách thương mại, buôn bán như mua hàng hoá để bán lại kiếm lời... hoặc hình thức của nó khiến cho pháp luật quy định là hành vi thương mại đương nhiên như lập hổì phiêù...
Các hành vi thương mại phụ thuộc là các hành vi có bản châ't là dân sự nhung do thương nhân thực hiện khi tiêh hành nghề nghiệp của mình.
Ớ đây cũng cẩn hiểu rằng có những hành vi thương mại lại được coi là hành vi dân sự vì người thực hiện chúng không phải là thương nhân. Điều đó có nghĩa là tư cách của người thực hiện hành vi có ảnh hưởng phần nào đến việc phân biệt hành vi .
Hành vi thương mại thuần tuý
Dường như cách thức liệt kê được pháp luật của cầc quốc gia sử dụng đê’ mô tả về hành vi thương mại hay nói đúng hơn là hành vi thương mại thuần tuý bởi các hành vi thương mại thuần tuý mang tính châ't khách quan, có nghĩa là tự bản thân nó có tính châ't thương mại. Do việc phát triêh của kinh tế - xã hội nói chung và của lĩnh vực thương mại nói riêng nên cách thức liệt kê không tránh khỏi những hạn chế. Trong thực tiễn xét xử, đôi khi toậ án buộc phải dùng phương pháp “hành vi tương tự" đế đánh giá một hành vi được coi là hành vi thương mại nhưng không được pháp luật quy định mà nó chỉ có đặc tính gần giôhg với các hành vi được liệt kê.
Trước kia, người ta thường liệt kê các hành vi thương mại theó kiểu có hạn định như sự liệt kê trong các Điều 632 và Điều 633 của Bộ luật Thương mại Pháp, Điều 7 Bộ luật Thương mại Trung Kỳ . Nhưng ngày nay, người ta thường liệt kê theo kiêù không hạn định hay nói cách khác đi là liệt kê theo kiêù chỉ dẫn như Luật Miễn trừ quôc gia của Canada; Luật mẫu của Liên hiệp quôc về thương mại điện tử... Kiêù liệt kê mới này không kìm hãm sự phát triển của quan niệm thương mại và hành vi thương mại.
Hành vi thương mại phụ thuộc
Có hai loại hành vi thương mại phụ thuộc: Thứ nhất là hành vi có bản châ't dân sự nhưng do thương nhân thực hiện do nhu cầu nghề nghiệp của mình nên trở thành hành vi thương mại (loại này cần được gọi là hành vi thương mại chủ quan vì phụ thuộc vào tư cách của người thực hiện thương nhân); thứ hai là hành vi có bản châ't dân sự do thương nhân thực hiện nên trở thành hành vi thương mại vì phụ thuộc vào một hành vi thương mại khác (loại- này cần được gọi là hành vi phụ thuộc vì liên quan tới một hành vi thương mại khác). Điều thứ 8 của Bộ luật Thương mại Trung Kỳ định nghĩa: "Những hành vi dân sự của một thương gia làm ra nhân việc buôn bán của mình đều là những hành vi thương mại".
Hành vi thương mại hỗn hợp
Thực tiễn xuất hiện một vân đê' là hành vi đôì với một bên là thương mại, nhưng đối với bên kia là dẫn sự. Ví dụ hợp đổng được ký kết giữa thương nhân với phi thương nhân mà với phi thương nhân, hợp đổng đó có tính châ't dân sự. Trường hợp này dẫn tới quan niệm vê' hành vi thương mại hỗn hợp.
Sự xuâ't hiện loại hành vi này càng làm rắc rối thêm cho sự phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại, và việc thiết lập qui chế pháp lý cho chúng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê