1 Quy định về hành vi thương mại thuần tuý

Hành vi thương mại thuần tuý là những hành vi có tính chất thương mại vì bản chất của nó thuộc về công việc buôn bán hoặc vì hình thức của nó được pháp luật coi là tiêu biểu cho hành vi thương mại.

Ví dụ, mua hàng hoá để bán lại kiếm lời là hành vi thương mại thuần tuý vì bản chất của nó mang tính thương mại hoặc ký hối phiếu cũng là hành vi thương mại thuần tuý vì hối phiếu là hình thức của hành vi thương mại, bất kể người ký hối phiếu có là thương nhân hay không.

Tuy nhiên, khi xác định cụ thể các hành vi thương mại thuần tuý, pháp luật của các nước khác nhau cũng định lượng rộng, hẹp không giống nhau. Ngay pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay, việc quy định các hành vi thương mại thuần tuý ương mỗi thời kì mỗi khác. Điều 45 Luật Thương mại năm 1997 của Việt Nam liệt kê cụ thể 14 loại hành vi thương mại. Nhưng theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 thì hành vi thương mại thuần tuý có nội dung rất rộng. Ngoài những hành vi như quy định tại Điều 45 Luật Thương mại năm 1997, khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại hoặc Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 còn quy định bổ sung nhiều loại khác.

Theo Điều 632 của Bộ luật Thương mại Pháp thì các hành vi thương mại do bản chất có hai loại là: hành vi thương mại ngay cả khi chúng được thực hiện một cách riêng rẽ, và hành vi chỉ được coi là hành vi thương mại khi nó được thực hiện thông qua một doanh nghiệp 8 .
Các hành vi thương mại riêng rẽ bao gồm:
- Việc mua động sản để bán lại không kể tới việc có gia công, sửa chữa, hoàn thiện hoặc làm tăngthêm giá trị hay không;
- Việc mua bán bất động sản để bán lại hoặc mua để xây dựng lại rồi bán toàn bộ hay từng phần;
- Hoạt động làm trung gian để mua hoặc bán các bất động sản, cơ sở kinh doanh, cổ phần của công ty kinh doanh bất động sản;
- Hoạt động môi giới thương mại;
- Hoạt động ngân hàng hay hối đoái.
Các hành vi thông qua doanh nghiệp bao gồm:
- Các doanh nghiệp cho thuê động sản;
- Các doanh nghiệp hoạt động chế tạo hay các nhà công nghiệp;
- Các doanh nghiệp hoạt động cung ứng hàng hoá, nguyên, nhiên, vật liệu...;
- Các doanh nghiệp hoạt động biểu diễn công cộng như tổ chức biểu diễn ca nhạc, xiếc, kịch... và các nhà xuất bản;
- Các doanh nghiệp hoạt động uỷ thác;
- Các cửa hàng bán đấu giá;
- Các hãng đại lý và các văn phòng kinh doanh;
- Các hãng bảo hiểm, các hãng điện ảnh, các hãng quảng cáo, thông tin . Ngoài ra, hoạt động khai thác mỏ luôn luôn được coi là hành vi thương mại.
Bộ luật Thương mại Pháp quy định những hành vi thương mại do hình thức gồm có hành vi lập hối phiếu và các công ty thương mại. Những hành vi thương mại do phụ thuộc là những hành vi phụ thuộc vào hoạt động thương mại; Ví dụ các giao dịch của thương nhân với nhau. Điều này dẫn đến hệ quả là hành vi của thương nhân trong hoạt động kinh doanh đều được xem là các hành vi thương mại dù bên đối tác có phải là thương nhân hay không, trừ khi chứng minh được rằng các hành vi đó không được thực hiện vì nhu cầu thương mại. Tuy nhiên, các giao dịch về sở hữu công nghiệp là giao dịch dân sự và cũng được coi là hành vi dân sự đối với các hành vi nhằm sở hữu bất động sản.
Điều 633 của Bộ luật Thương mại Pháp liệt kê các hành vi thương mại thuần tuý trong lĩnh vực hàng hải bao gồm:
- Tất cả doanh nghiệp đóng tàu và tất cả việc mua, bán tầu đi sông, đi biển;
- Tất cả việc chuyên chở hàng hải;
- Tất cả việc bán buồm tầu và các dịch vụ phụ thuộc; tất cả dụng cụ và đồ tiếp tế trên tầu;
- Tất cả việc thuê tầu và cho vay mạo hiểm;
- Tất cả hợp đồng bảo hiểm và các hợp đồng khác liên quan tới thương mại hàng hải;
- Tất cả các hợp đồng về tiền công của thuỷ thủ đoàn;
- Tất cả các hợp đồng của thuỷ thủ làm việc cho những tàu buôn.
Tuy nhiên, người ta hiểu rằng luật hàng hải là một ngành luật riêng biệt, mang tính chất phức hợp bao gồm cả các quy định của cả luật công và luật tư. Vì vậy, luật thương mại ngày nay ít đề cập đến các hành vi thương mại trong lĩnh vực hàng hải. Đối với vấn đề bảo hiểm cũng được nghiên cứu riêng biệt vì tính chất phức tạp, đặc thù của nó.
Theo cách thức liệt kê chỉ dẫn, Điều thứ 342 và 343 của Bộ luật Thương mại của chính quyền Sài gòn cũ đã chỉ ra các hành vi thương mại bao gồm:
" - Sự khai thác hầm mỏ và nguyên liệu,
- sự chế tạo và biến chế mọi sản phẩm kỹ nghệ.
- sự mua để bán lại và cho thuê các tài vật và hàng hoá bất cứ loại gì,
- các nghiệp vụ ký kho và tồn trữ hàng hoá,
- mọi việc chuyên chở hành khách, tài vật và hàng hoá,
- các nghiệp vụ bảo hiểm dưới mọi hình thức,
- các nghiệp vụ hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng khoán,
- các nghiệp vụ trung gian, trọng mãi, đại diện, đại lý thương mại,
- các doanh nghiệp cung cấp vật liệu, dịch vụ xây cất, giải trí công cộng, xuất bản, truyền tin, truyền hình;
- việc đóng thuyền tầu và phi cơ,
- sự chuyên chở hàng hải và hàng không,
- mua bán hay thuê mướn thuyền tàu, phi cơ để dùng trong sự giao thông quốc nội hay quốc ngoại,
- mọi khế ước thuỷ vận và không vận".
Ở đây cũng cần phải nhấn mạnh thêm rằng những hành vi được xem là hành vi thương mại theo quan niệm mới là rất rộng, khó xác định được đầy đủ. Nhưng đó cũng chỉ là kết quả của sự suy đoán chủ quan của người làm luật, do đó ranh giới giữa chúng với các hành vi dân sự là rất mong manh. Vậy án lệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xác định các hành vi trong thực tế được coi là hành vi thương mại.

2 Quy định về hành vi thương mại phụ thuộc

Hành vi thương mại phụ thuộc là những hành vi có bản chất dân sự nhưng do thương nhân thực hiện theo nhu cầu nghề nghiệp hay nhân lúc hành nghề và do đó được coi là hành vi thương mại? Ví dụ, thương nhân mua phương tiện, trang thiết bị văn phòng để trang bị cho các phòng làm việc của mình là hành vi thương mại phụ thuộc (do nhu cầu của nghề nghiệp).

Có hai loại hành vi thương mại phụ thuộc: Thứ nhất là hành vi có bản chất dân sự nhưng do thương nhân thực hiện do nhu cầu nghề nghiệp của mình nên trở thành hành vi thương mại. Loại này cần được gọi là hành vi thương mại chủ quan vì phụ thuộc vào tư cách của người thực hiện; Thứ hai là hành vi có bản chất dân sự nhưng do thương nhân thực hiện nên trở thành hành vi thương mại vì phụ thuộc vào một hành vi thương mại khác. Loại này cần được gọi là hành vi phụ thuộc vì liên quan tới một hành vi thương mại khác. Tuy nhiên, cần phải nói rằng có những hành vi thương mại không phải do thương nhân thực hiện và được thực hiện vì mục đích dân sự lại được coi là hành vi dân sự phụ thuộc.
Điều 8 của Bộ luật Thương mại Trung kỳ định nghĩa: " Những hành vi dân sự của một thương gia làm ra nhân việc buôn bán của mình đều là những hành vi thương mại ".
Điều 638 của Bộ luật Thương mại Pháp cho rằng mọi giấy tờ do thương gia ký kết được xem là nhằm thực hiện công việc kinh doanh của mình. Vì thế người ta có thể căn cứ vào đó để suy đoán tính cách thương mại của hành vi.
Như vậy một hành vi thương mại phụ thuộc có nguồn gốc và bản chất dân sự, nhưng tính cách thương mại của nó phụ thuộc vào hai yếu tố: 1) hành vi phải do thương gia thực hiện; 2) hành vi phải được thực hiện vì nhu cầu thương mại.

3 Hành vi thương mại hàng hoá là gì ?

Hành vi thương mại hàng hoá là những hành vi phát sinh trong quá trình hao đổi hàng hoá, bao gồm: mua bán hàng hoá và các hoạt động khác liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá như cung ứng dịch vụ thương mại, xúc tiến thương mại.

Trong thương mại hàng hoá, mua bán hàng hoá là hành vi chủ yếu nhất, đặc trưng của hành vi mua bán hàng hoá thể hiện ở đối tượng của hành vi này là hàng hoá, bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai.

Mua bán hàng hoá được quy định cụ thể trong chương 2 Luật Thương mại năm 2005. Với 49 điều trong chương 2, Luật Thương mại năm 2005 quy định tương đối đầy đủ các vấn đề liên quan đến mua bán hàng hoá với tư cách là một hoạt động chủ yếu của thương nhân ở Việt Nam. Ngoài những điều quy định chung đối với hoạt động mua bán hàng hoá như: Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá, hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện, áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng hoá lưu thông trong nước, mua bán hàng hoá quốc tế, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập hàng hoá, chuyển khẩu hàng hoá, áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động mua bán hàng hoá quốc tể, nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá và quy tắc xuất xứ hàng hoá, một nội dung quan trọng trong chương này đó là các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá? Đặc biệt, trong chương 2 Luật Thương mại năm 2005, pháp luật đã ghi nhận hoạt động mua bán hàng hoá mới, tiên tiến trong nền kinh tế thị trường, đó là mua bán hàng hoá qua sở giao dịch (Mục 3 Chương 2 Luật Thương mại năm 2005).

Bên cạnh hoạt động mua bán hàng hoá trong thương mại hàng hoá còn có các hoạt động dịch vụ thương mại như:

- Xúc tiến thương mại (bao gồm: Khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá, dịch vụ, hội chợ, triển lãm thương mại);

-Trung gian thương mại (bao gồm: Đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá, đại lý thương mại) và

- Một số hoạt động thương mại cụ thể khác, như: gia công trong thương mại, đấu giá hàng hoá, đấu thầu hàng hoá dịch vụ, dịch vụ logistics, cho thuê hàng hoá, nhượng quyền thương mại.

Mặc dù thuộc nội hàm của khái niệm thương mại hàng hoá, song khác với hoạt động mua bán hàng hoá, các dịch vụ thương mại kể trên có đối tượng là dịch vụ, tức là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể. Bên cạnh đó, các hoạt động này phải là những hành vi liên quan trực tiếp với hành vi mua bán hàng hoá, phục vụ trực tiếp cho việc mua bán hàng hoá. Các hành vi thương mại hàng hoá được quy định cụ thể ở trong các chương 3, 4, 5, 6 Luật Thương mại năm 2005. Các quy định của Luật Thương mại tập trung ghi nhận bản chất của các hoạt động dịch vụ thương mại, cách thức thực hiện các hoạt động đó, đặc biệt quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân khi tiến hành các hoạt động dịch vụ thương mại này.

4 Hành vi thương mại trong lĩnh vực đầu tư là gì?

Dưới góc độ pháp lý, thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo nhiều hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hay lợi ích kinh tế, xã hội khác.

Hoạt động đầu tư có thể có tính chất thương mại hoặc là phi thương mại. nhà đầu tư thông minh

Nhóm hành vi thương mại trong lĩnh vực đầu tư là những hành vi đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư, là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

Cũng tương tự như những hành vi thương mại trong lĩnh vực dịch vụ, không phải tất cả các hoạt động đầu tư là hành vi thương mại mà chỉ có những hoạt động đầu tư cho kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận mới được coi là hành vi thương mại

5 Các hệ quả của việc xác định hành vi thương mại

Việc xác định hành vi thương mại không những làm rõ được khái niệm về thương nhân mà còn dẫn tới một số hệ quả.
Trước tiên, các hành vi thương mại có một chế độ pháp lý riêng biệt về năng lực, chứng cứ, nghĩa vụ liên đới, thời hiệu...
Thứ hai, các hành vi thương mại phải phụ thuộc vào các quy tắc tố tụng riêng như thẩm quyền của toà án, thủ tục tố tụng riêng như thẩm quyền của toà án, thủ tục tố tụng và phương pháp chấp hành 9 . Ở Pháp, các hành vi thương mại còn phụ thuộc vào một chế độ thuế riêng biệt. Song các vấn đề nêu trên còn tuỳ thuộc vào pháp luật của các quốc gia, nhất là về quy tắc tố tụng cho thương mại. Có quốc gia phân biệt hai hệ thống toà án riêng biệt cho thương mại và dân sự như: Pháp, Bỉ, Thuỵ Sỹ (Zurich and Bern), Argentina, Á o... Có quốc gia không có sự phân biệt giữa toà án dân sự và toà án thương mại như: Tây Ban Nha, Hà Lan, Thuỵ Điển... Chế độ pháp lý được nêu trong hệ quả thứ nhất thuộc luật vật chất.
Xuất phát từ luật vật chất có sự khác biệt giữa dân sự và thương mại, nên người Pháp và người Bỉ... cho rằng phải có sự phân biệt về luật thủ tục giữa dân sự và thương mại. Nhưng một số nước khác như Tây Ban Nha, Hà Lan..., kể cả chính quyền Sài gòn cũ sử dụng chung một hệ thống luật hình thức cho cả hai lĩnh vực này.
Việt Nam hiện nay chia ra hai hệ thống toà dân sự và toà kinh tế áp dụng hai thủ tục khác biệt. Song về thực chất sự phân biệt này chưa được làm rõ từ luật vật chất cho tới luật hình thức. Điều này là hệ quả tất yếu của việc chưa có một hệ thống lý thuyết rõ ràng của các ngành luật dân sự, luật kinh tế, hay luật thương mại, chưa kể đến sự lúng túng trong việc phân biệt giữa luật thương mại và luật kinh tế, cũng như sự lúng túng trong quan niệm mới về luật kinh tế không phải là một ngành luật độc lập mà chỉ là một lĩnh vực pháp luật nằm trong hệ thống luật công.
Việc xác định thẩm quyền của toà án cũng là vấn đề phức tạp khi một hành vi chỉ có tính chất thương mại đối với một bên trong tranh chấp. Vì vậy, người ta thường đưa ra quy tắc cho phép (luật của Pháp) nguyên đơn có quyền lựa chọn hoặc toà án thương mại hoặc toà án thường khi hành vi là thương mại đối với bị đơn. Nhưng nếu hành vi, đối với bị đơn, không phải là hành vi thương mại thì nguyên đơn chỉ có thể kiện trước toà án thường, không kể đến hành vi đó là hành vi thương mại đối với nguyên đơn.
Pháp luật hiện hành của Việt Nam không có quy tắc lựa chọn như vậy. Điều này có thể gây rắc rối cho nguyên đơn trong các vụ kiện tương tự như trên đã nói. Trong những vụ kiện có tính chất hỗn hợp như vậy các quy tắc về chứng cứ, về thời hiệu... có thể được bên không phải thương nhân dẫn chứng để chống lại thương nhân, nhưng ngược lại thương nhân chỉ có thể sử dụng các quy tắc của luật dân sự để chống lại bên không phải là thương nhân.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!