1. Khái niệm tạm đình chỉ vụ án dân sự

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì vụ án dân sự phải được giải quyết trong một khoảng thời gian nhất định, nếu quá thời hạn tối đa theo quy định của pháp luật mà vụ án vẫn chưa giải quyết thì bị coi là vi phạm thời hạn xét xử. Thông thường các Tòa án đều cố gắng giải quyết vụ án trong thòi hạn luật định. Nhưng thực tế trong quá trình tố tụng mới xuất hiện các sự kiện làm cho Tòa án dù đã nỗ lực hết sức nhưng không thể nào tiếp tục giải quyết vụ án. Vì vậy, pháp luật tố tụng đã quy định những trường hợp tạm thời ngừng giải quyết vụ án, chứ không phải ngừng vĩnh viễn hoặc không giải quyết vụ án nữa. Vậy tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự chính là việc Tòa án ra quyết định tạm ngừng giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quý định.

Việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án chỉ là việc tạm thời ngừng giải quyết vụ án trong một khoảng thời gian, chứ không phải chấm dứt giải quyết vụ án, đình chỉ tố tụng, nên Tòa án không xóa sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ là tạm đình chỉ. Pháp luật không quy định thời gian tạm đình chỉ, mà việc tạm đình chỉ dài hay ngắn phụ thuộc vào diễn biến của căn cứ tạm đình chỉ. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, thì phải đưa ngay vụ án ra tiếp tục giải quyết.

 

2. Thẩm quyền tạm đình chỉ vụ án

Thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án & tại phiên tòa dân sự sơ thẩm của hoạt động xét xử sơ thẩm

Căn cứ Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau:

“Điều 219. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

2. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.”

 

3. Căn cứ tạm đình chỉ vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;

đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;

g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

 

4. Thời điểm ra quyết định tạm đình chỉ vụ án dân sự

4.1 Thủ tục sơ thẩm:

-Giai đoạn chuẩn bị xét xử:

Căn cứ khoản 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự

“3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.”

-Giai đoạn tại phiên tòa sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

“Điều 219. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

2. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.”

 

4.2 Thủ tục phúc thẩm:

– Tại phiên tòa phúc thẩm:

Căn cứ khoản 6 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

“Điều 308. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây:

1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

2. Sửa bản án sơ thẩm;

3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;

4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;

5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm;

6. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý.”

Như vâỵ, quyết định tmaj đình chỉ vụ án dân sự có thẻ được áp dụng ở cả giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm.

 

5. Hậu quả của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự

Căn cứ Điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về hậu quả của việc đình chỉ vụ án dân sự như sau:

“Điều 215. Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.

2. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

3. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này thì trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời. Hết thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

4. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.

Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.

5. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.”

Có ý kiến cho rằng, khi tạm đình chỉ phải xóa sổ thụ lý và khi lý do tạm đình chỉ không còn thì thụ lý lại, phải thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát biết việc thụ lý lại. Đây là nhận thức không đúng. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án chỉ là tạm ngừng “có điều kiện", không phải ngừng hẳn việc giải quyết, nên không xóa sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý ngày, tháng, năm ra quyết định tạm đình chỉ đó. Việc không xóa sổ thụ lý buộc Tòa án phải theo dõi, nằm trong “bộ nhớ” của Tòa thì mới không bỏ quên và đó là cơ sỏ để xác định trách nhiệm của Tòa án vối đương sự.

Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi vào kho bạc và được giải quyết khi Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết khi lý do tạm đình chỉ không còn.

Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ít nhiều đều đã xâm phạm đến lợi ích của đương sự như làm cho vụ án bị kéo dài, quyển và lợi ích không được bảo vệ kịp thời... Do đó, pháp luật tố tụng đã quy định Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ cho đương sự và Viện kiểm sát. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định tạm đình chỉ để giải quyết theo trình tự phúc thẩm, nhằm hạn chế, sửa chữa kịp thòi các trường hợp ra quyết định tạm đình chỉ không đúng. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôì cao thì:

“1. Khi quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bị kháng cáo, khảng nghị theo thủ tục phúc thẩm và việc kháng cáo, kháng nghị là hợp lệ, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mới có khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, thì cần phân biệt như sau:

a) Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là không đúng, thì tiếp tục giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ vì lý do tạm đình chỉ không còn.

b) Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là đúng và vẫn giữ nguyên, thì khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm."

Hướng dẫn trên rất có ý nghĩa, các Tòa án phải vận dụng thống nhất trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự.

Trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, cũng như trong Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôì cao chưa đề cập việc khi lý do tạm đình chỉ không còn, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết thì có phải thông báo cho các bên tham gia tố tụng và Viện kiểm sát biết hay không, nên thực tế nhiều Tòa án không có thông báo. Theo ý kiến tác giả, dù vấn đề này chưa được quy định, hướng dẫn rõ, nhưng sợi chỉ đỏ xuyên suốt Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, đã toát lên nguyên tắc công khai, minh bạch trong quá trình tố tụng. Khi “tạm dừng” Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ cho những ngưòi tham gia tố tụng và Viện kiểm sát, thì khi tiếp tục tố tụng trở lại Tòa án cũng cần phải thông báo cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát xét xử, như: kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử và thực hiện báo cáo thống kê tuần, tháng, quý theo quy chế của ngành kiểm sát... Để nhận thức, thực hiện thống nhất trước mắt, cần phải hướng dẫn, còn về lâu dài khi tiến hành sửa đổi, bổ sung toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự thì nên quy định khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án hoặc ít ra phải thông báo bằng văn bản cho các bên liên quan biết.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)