Hệ thống hình phạt là tổng thể các loại hình phạt được quy định trong Luật hình sự và được sắp xếp theo một trật tự nhất định tùy thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm khắc của mỗi loại hình phạt.
Hệ thống hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam được quy định tại Điều 32 đối với người phạm tội và quy định tại Điều 33 đối với pháp nhân thương mại phạm tội Bộ luật hình sự năm 2015 và được chia thành 2 nhóm:
Điều 32 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về các hình phạt đối với người phạm tội.
- Hình phạt chính bao gồm:
+ Cảnh cáo;
+ Phạt tiền;
+ Cải tạo không giam giữ;
+ Trục xuất;
+ Tù có thời hạn;
+ Tù chung thân;
+ Tử hình.
* Hình phạt bổ sung bao gồm:
+ Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;
+ Cấm cư trú;
+ Quản chế;
+ Tước một số quyền công dân;
+ Tịch thu tài sản;
+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;
+ Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Điều 33 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
* Hình phạt chính bao gồm:
+ Phạt tiền;
+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
* Hình phạt bổ sung bao gồm:
+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;
4- Cấm huy động vốn;
+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Theo Điều 98 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định các hình phạt đối với người dưói 18 tuổi phạm tội gồm:
(1) cảnh cáo;
(2) Phạt tiền;
(3) cải tạo không giam giữ;
(4) Tù có thời hạn.
* Những điểm khác nhau căn bản giữa hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
+ Hình phạt chính là hình phạt được tuyên độc lập phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà người phạm tội đã thực hiện còn hình phạt bổ sung là hình phạt có tính chất hỗ trợ cho hình phạt chính.
+ Theo quy định của Bộ luật hình sự, mỗi tội phạm cụ thể Tòa án chỉ được tuyên một hình phạt chính nhưng có thể tuyên một hoặc một số hình phạt bổ sung, hoặc không áp dụng hình phạt bổ sung nào nếu Điều luật đó không quy định.
* Hình phạt chính là hình phạt bắt buộc phải tuyên đối với người phạm tội, còn hình phạt bổ sung không bắt buộc nếu xét thấy không cần thiết.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật hình sự về vấn đề trên như sau:
1. Hình phạt là gì?
- Theo quy định của Điều 30 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó. Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và chỉ có mỗi đạo luật này quy định về tội phạm và hình phạt. Các hình phạt được sắp xếp theo hệ thống và được quy định rất cụ thể, rõ ràng, loại hình phạt nào được áp dụng cho hành vi phạm tội nào và giới hạn cụ thể cho từng hình phạt. Hình phạt phải mang tính chất tương xứng với tính chất hoặc mức độ nguy hiểm cho xã hội của người hoặc pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Hình phạt được Bộ luật Hình sự quy định và sẽ do Tòa án áp dụng và muốn áp dụng thì phải chứng minh chủ thể đó có các dấu hiệu như tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính trái pháp luật hình sự và tính có lỗi của chủ thể phạm tội gắn liền với tính chịu hình phạt.
- Hình phạt với hành vi phạm tội có mối quan hệ nhân quả tức là đối với mỗi hành vi phạm tội sẽ phải chịu hình phạt tương ứng. Và nếu không có hành vi phạm tội thì không thể áp dụng hình phạt đối với những chủ thể đó. Nghĩa là trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt đối với những hành vi không được quy định tại Bộ luật Hình sự là tội phạm và tất nhiên cũng không được áp dụng một hình phạt nào đó khác với những hình phạt được Bộ luật Hình sự quy định trong hệ thống hình phạt của Việt Nam.
- Hình phạt là chế tài cao nhất mà Nhà nước áp dụng đối với tội phạm, Nhà nước đại diện quyền lực và phải có trách nhiệm bảo vệ người dân thì hình phạt là điều tất yếu một phần nhằm để trừng trị nhưng phần nhiều hơn để răn đe, giáo dục người phạm tội và xã hội tránh xa những hành vi vi phạm pháp luật.
2. Hệ thống hình phạt theo quy định của Bộ luật Hinh sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Hệ thống hình phạt được sắp xếp lần lượt từ đối với người phạm tội sau đó đến pháp nhân thương mại phạm tội. Trong mỗi loại lại phân ra hình hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong đó hình phạt chính được sắp xếp theo một trật tự lôgic từ hình phạt ít nghiêm khắc nhất đến hình phạt nghiêm khắc nhất. Và không phải hình phạt nào cũng tước đi sự tự do của người phạm tội điều đó thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, tính nhân văn bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã chọn và hướng tới. Hình phạt phải đi từ nhắc nhở, cải tạo, giáo dục cho tới trừng phạt đối với tội phạm. Về bản chất hình phạt không nhằm mục đích trả thù của Nhà nước đối với người phạm tội mà mục đích chính vẫn chỉ là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
- Hiện nay theo xu hướng chung thì thực tiễn hình phạt đã có sự thay đổi về nhận thức và áp dụng theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt ít nghiêm khắc, đồng thời quy định cụ thể phạm vi áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn.
- Như đã nêu ở trên thì hệ thống hình phạt được quy định đối với người phạm tội và pháp nhân phạm tội, cụ thể trong các nhóm có hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong đó các hình phạt chính sẽ sắp xếp theo thứ tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc.
* Các hình phạt đối với người phạm tội được quy định tại Điều 32 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
- Hình phạt chính bao gồm:
+ Cảnh cáo: được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.
+ Phạt tiền: được áp dụng là hình phạt chính đối với trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng; phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật Hình sự quy định; người phạm tội rất nghiêm trọng; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, ... Hình phạt tiền cũng được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
+ Cải tạo không giam giữ: được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật Hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội.
+ Trục xuất: được áp dụng đối với người nước ngoài về việc không cho họ sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam. Như vật đối tượng áp dụng hình phạt trục xuất chỉ với người nước ngoài bị kết án và theo quyết định của Tòa án nhân dân trong một thời hạn nhất định người bị kết án bắt buộc phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.
+ Tù có thời hạn: được áp dụng đối với người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.
+ Tù chung thân: được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình, thực chất đây vẫn là hình phạt tù nhưng không có thời hạn và không áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
+ Tử hình: chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng, ... Đây là hình phạt chính nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của Việt Nam đồng nghĩa với việc khi áp dụng hình phạt này thì người vi phạm đã có hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng và cần phải loại bỏ xã hội. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.
- Hình phạt bổ sung bao gồm:
+ Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
+ Cấm cư trú: là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú hoặc thường trú ở một số địa phương nhất định.
+ Quản chế: là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương.
+ Tước một số quyền công dân: như không được ứng cử, bầu cử, đăng ký tuyển dụng vào các cơ quan, đơn vị của Nhà nước, Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội.
+ Tịch thu tài sản: là tước một phần hoặc toàn bộ toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước.
+ Phạt tiền, chỉ áp dụng khi không phải là hình phạt chính.
+ Trục xuất, chỉ áp dụng khi không phải là hình phạt chính.
Lưu ý: đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
* Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
- Hình phạt chính bao gồm:
+ Phạt tiền;
+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
- Hình phạt bổ sung bao gồm:
+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;
+ Cấm huy động vốn;
+ Phạt tiền, chỉ áp dụng khi không phải là hình phạt chính.
Lưu ý: đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
3. So sánh hình phạt chính và hình phạt bổ sung?
- Giống nhau:
+ Đều tước đoạt hoặc hạn chế một số quyền nhất định của chủ thể vi phạm.
+ Đều do chủ thể có thẩm quyền ra quyết định.
+ Mang lại bất lợi cho người bị áp dụng hình phạt đó.
- Khác nhau:
| Tiêu chí | Hình phạt chính | Hình phạt bổ sung |
| Khái niệm | Hình phạt chính là hình phạt cơ bản được áp dụng cho một loại tội phạm và được tuyên độc lập với mỗi tội phạm, tòa án chỉ có thể tuyên án áp dụng một hình phạt chính đối với một tội danh. | Hình phạt bổ sung là hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên kèm theo hình phạt chính. Đối với mỗi loại tội phạm tòa án có thể tuyên một hoặc nhiều hình phạt bổ sung nếu điều luật về tội phạm này có quy định các hình phạt bổ sung. |
| Các hình phạt | - Đối với cá nhân: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. - Đối với pháp nhân: phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. | - Đối với cá nhân: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính), trục xuất (khi không áp dụng là hình phạt chính). - Đối với pháp nhân: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính). |
| Tính chất | So với hình phạt bổ sung thì hình phạt chính mang tính nghiêm khắc, nặng hơn rất nhiều. Hình phạt chính thường quy định các quyền cơ bản của công dân như quyền được sống, quyền được tự do. | Hình phạt bổ sung so với hình phạt chính thì nhẹ hơn rất nhiều. Thường quy định về các quyền không cơ bản của chủ thể. |
| Nguyên tắc áp dụng | - Hình phạt chính có thể được tuyên độc lập, không cần hình phạt bổ sung. - Hình phạt chính được vận dụng riêng rẽ chứ không đồng thời áp dụng đối với người phạm tội chỉ áp dụng một trong các hình phạt chính. - Khi áp dụng một hình phạt chính có thể áp dụng thêm một hoặc nhiều biện pháp hình phạt bổ sung. | Hình phạt bổ sung luôn phải đi kèm với hình phạt chính. Tức là hình phạt bổ sung không thể tuyên độc lập. Hình phạt bổ sung còn có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung. |
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!