Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm, mục đích và vai trò của hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam
- 1.1 Khái niệm hình phạt bổ sung
- 1.2 Mục đích và vai trò của hình phạt bổ sung
- 1.2.1 Mục đích của hình phạt bổ sung
- 1.2.2 Vai trò của hình phạt bổ sung
- 2. Khái niệm, mục đích và vai trò của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
- 2.1 Khái niệm phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
- 2.2 Mục đích và vai trò của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
- 2.2.1 Mục đích của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
- 2.2.2 Vai trò của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
- 3. Phân biệt phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung với một số chế tài pháp lý khác
- 3.1 Phân biệt phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung và phạt tiền với tư cách hình phạt chính
- 3.2 Phân biệt phạt tiền và tịch thu tài sản với tư cách hình phạt bổ sung
- 3.3 Phân biệt phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung và phạt tiền là biện pháp xử lý hành chính
1. Khái niệm, mục đích và vai trò của hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam
1.1 Khái niệm hình phạt bổ sung
Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về hình phạt như sau: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.".
.png)
Từ khái niệm hình phạt, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hình phạt bổ sung dựa trên những điểm chung giống hình phạt và những điểm riêng khác của hình phạt bổ sung như sau: Hình phạt bổ sung là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên kèm theo hình phạt chính trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật với mục đích tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người bị kết án.
1.2 Mục đích và vai trò của hình phạt bổ sung
1.2.1 Mục đích của hình phạt bổ sung
Hình phạt bổ sung cũng có những mục đích giống như mục đích của hình phạt đó là trừng trị, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Ngoài ra, hình phạt bổ sung còn có mục đích giúp hình phạt chính đạt hiệu quả cao nhất: Thứ nhất, hình phạt bổ sung làm cho hệ thống hình phạt cân đối hơn, tương xứng hơn, hoàn thiện hơn góp phần thực hiện nguyên tắc xử lý hình sự và nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt.
Thứ hai, hình phạt bổ sung không có mục đích trừng trị cao như hình phạt chính và không được áp dụng một cách độc lập mà áp dụng cùng với hình phạt chính để hỗ trợ cho hình phạt chính.
Thứ ba, hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt làm phong phú các biện pháp hình sự.
Thứ tư, khi áp dụng thì Tòa án nghiêng về mục đích phòng ngừa riêng nhiều hơn, nhưng không có nghĩa là việc áp dụng hình phạt bổ sung vượt ra ngoài các mục đích chung của hình phạt.
Thứ năm, hình phạt bổ sung vừa có tác dụng tiếp tục cải tạo, giáo dục người phạm tội sau khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính vừa phát huy tính tích cực trong việc loại trừ môi trường, điều kiện phạm tội lại của người bị kết án.
1.2.2 Vai trò của hình phạt bổ sung
Hình phạt bổ sung giữ vai trò củng cố, hỗ trợ hình phạt chính, nhưng không thể thay thế hình phạt chính. Do vậy, hình phạt bổ sung có những vai trò sau:
Thứ nhất, hình phạt bổ sung có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho hình phạt chính để làm tăng thêm hiệu quả của hình phạt.
Thứ hai, sự hiện diện của hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt góp phần đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự.
Thứ ba, sự thống nhất của các hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong cùng một hệ thống hình phạt có vai trò rất quan trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự nói riêng và thực hiện chính sách hình sự nói chung.
2. Khái niệm, mục đích và vai trò của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
2.1 Khái niệm phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, hình phạt tiền được hiểu như sau: Phạt tiền là hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước.
Từ khái niệm về hình phạt tiền và hình phạt bổ sung chúng tôi đưa ra định nghĩa đang nghiên cứu như sau: Phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung là hình phạt bổ sung quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam được tuyên kèm theo hình phạt chính đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do bộ luật hình sự quy định, tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước. Đây là khái niệm ngắn gọn phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung.
2.2 Mục đích và vai trò của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
2.2.1 Mục đích của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
Thứ nhất, mục đích trừng trị tương đối nghiêm khắc có khả năng tác động một cách trực tiếp và có hiệu quả về mặt kinh tế đối với người phạm tội.
Thứ hai, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung có vai trò hỗ trợ, tăng cường hiệu quả của hình phạt chính trong việc giáo dục cải tạo người phạm tội và loại trừ điều kiện phạm tội mới.
Thứ ba, việc quy định và áp dụng phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung còn có mục đích phòng ngừa chung.
Ngoài ra, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung còn tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
2.2.2 Vai trò của phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung
Thứ nhất, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung làm phong phú, cân đối hệ thống hình phạt.
Thứ hai, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung góp phần thực hiện nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa hình phạt.
Thứ ba, việc áp dụng phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung giúp cho Tòa án có nhiều lựa chọn hơn trong khi quyết định hình phạt.
3. Phân biệt phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung với một số chế tài pháp lý khác
3.1 Phân biệt phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung và phạt tiền với tư cách hình phạt chính
Thứ nhất, phạt tiền với tư cách hình phạt chính chỉ được áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, còn phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung được áp dụng rộng hơn đối với cả tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ hai, phạt tiền với tư cách hình phạt chính được tuyên độc lập còn phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung không được tuyên độc lập mà chỉ được áp dụng kèm theo hình phạt chính không phải là hình phạt tiền đối với mỗi tội phạm cụ thể.
Thứ ba, hậu quả pháp lý của việc áp dụng phạt tiền với tư cách hình phạt chính là án tích một năm. Còn đối với việc áp dụng phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung thì không ảnh hưởng đến án tích, mà án tích sẽ phụ thuộc vào hình phạt chính được áp dụng.
Thứ tư, Phạt tiền với tư cách hình phạt chính áp dụng đối với người từ đủ mười sáu tuổi trở lên còn phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung quy định không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
3.2 Phân biệt phạt tiền và tịch thu tài sản với tư cách hình phạt bổ sung
Thứ nhất, tịch thu tài sản chỉ áp dụng đối với người bị kết án về các tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng còn phạt tiền áp dụng đối với các loại tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định.
Thứ hai, tịch thu tài sản là "tước một phần hoặc toàn bộ tài sản" còn phạt tiền là "tước một khoản tiền nhất định" thuộc sở hữu của người bị kết án.
Thứ ba, các điều luật cụ thể có quy định về hình phạt tịch thu tài sản chỉ quy định tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người bị kết án. Còn đối với hình phạt tiền thì quy định mức phạt tiền tối thiểu là một triệu đồng.
3.3 Phân biệt phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung và phạt tiền là biện pháp xử lý hành chính
Thứ nhất, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung trong luật hình sự được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Còn phạt tiền với tư cách xử lý vi phạm hành chính được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính
Thứ hai, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung chỉ áp dụng với chính người phạm tội khi họ phạm một tội cụ thể có quy định áp dụng. Trong khi đó phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý vi phạm mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định phải xử phạt vi phạm hành chính.
Thứ ba, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền áp dụng phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung đối với người bị kết án. Còn thẩm quyền áp dụng phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính gồm Ủy ban nhân dân các cấp, Công an nhân dân, Thanh tra vv…
Một là, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung là hình phạt bổ sung quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam được tuyên kèm theo hình phạt chính đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do bộ luật hình sự quy định, tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước.
Hai là, phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung làm phong phú, cân đối hệ thống hình phạt, giúp cho việc thực hiện chính sách hình sự một cách năng động nhằm để hoàn thành chức năng xã hội của hình phạt, và góp phần thực hiện nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa hình phạt.
Ba là, mặc dù các trường hợp áp dụng phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung đã được quy định một cách chính thức và cụ thể trong Bộ luật hình sự nhưng trong thực tiễn áp dụng còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng và chưa thống nhất.
Bốn là, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay để thực hiện chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nước ta nói riêng, cũng như để phù hợp với thực tiễn xét xử, dưới góc độ nhận thức - khoa học, nhà làm luật nước ta cần thay đổi về mức tối thiểu và tối đa của khung hình phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế hiện nay đồng thời cũng quy định biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc đối với việc người bị kết án không thi hành hình phạt này.
Và cuối cùng, năm là, ở một chừng mực nhất định, luận văn đã phần nào giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn về mặt lý luận của hình phạt này dưới góc độ khoa học không những là hướng nghiên cứu quan trọng, mà còn là việc làm cần thiết của khoa học luật hình sự nước ta hiện nay.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê