1. Củng cố các đạo luật
Cùng với việc mở rộng các nghĩa vụ thương mại tự do trong các cuộc thương thuyết của Vòng Uruguay, các nước thành viên lại phải quan tâm đến vấn đề cái gì làm cho hợp pháp một ngoại lệ đối với một chính sách thương mại mở và hàng loạt những điều chỉnh pháp lý mở ra giúp các chính phủ nhằm bảo hộ các lĩnh vực kinh tế còn non yếu. Những quy tắc thương mại được bao hàm trong thỏa thuận nguyên thúy của GATT năm 1947 nói rõ những điều kiện mà theo đó một quốc gia có thể được miễn trừ một nghĩa vụ mà trước đó nó đã tuyên bố là mở cửa thị trường cho hàng hóa nước ngoài. Chuyên làm rõ những ngoại lệ hợp pháp đối với các thỏa thuận này cũng có thể thực hiện được trong các nước thành viên, cũng giống như việc đàm phán về tự do hóa các lĩnh vực dệt may và nông sản. Không giống như các vấn đề thương mại dịch vụ và nghĩa vụ phải tích hợp việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tiến trình mặc cả những sự sửa chữa về thương mại là có thể đoán trước được và sự ủy quyền được công nhận một cách phổ quát cũng như trong khuôn khổ sự ủy quyền mà các nhà đàm phán nhận được.
Không nên ngạc nhiên trước quãng thời gian và sự chú tâm mà định chế thương mại tự do đã dành cho vấn đề ngoại lệ. Một cách tiêu biểu, tự do hóa thương mại dẫn tới một sự chuyển dịch về phân phối trong các nhà sản xuất nội địa. Để đáp ứng lại tác động tiêu cực của việc mở cửa biên giới thương mại lên một số nhóm, các quốc gia đã tạo ra một loạt các công cụ chính sách đối nội để chống đỡ cho các nhóm đó trước các sức mạnh thị trường. Khi Vòng Tokyo bắt đầu, những biện pháp phi thuế ở biên giới đã trở thành một hạn chế rõ ràng đối với thương mại, cũng như thuế quan truyền thống vậy. Phương thức được chọn để điều hòa hành vi của nhà nước mâu thuẫn với các quy tắc và quy ước của GATT chính là sự ban hành các bộ luật “nhiều bên”. Có 9 bộ luật như vậy đã được thỏa thuận bởi các nhóm thành viên của GATT, bao trùm từ tiêu chuẩn, chống bán phá giá, giấy phép nhập khẩu, thẩm định giá của hải quan, mua sắm của chính phủ, máy bay dân dụng, trợ cấp và các biện pháp đối kháng cũng như việc buôn bán các sản phẩm sữa và thịt bò.26 Những bộ luật của Vòng Tokyo này có hai thuộc tính quan trọng: chúng chỉ ràng buộc những thành viên của GATT nào chấp nhận tham gia, và nói chung chúng có một thủ tục áp dụng khá yếu ớt.
2. Một trong các nhiệm vụ của vòng Uruguay là củng cố các thỏa thuận thương mại
Một nhiệm vụ chính của Vòng Uruguay là củng cố nhiều thỏa thuận khác nhau đã được thương thảo tại Vòng Tokyo và tích hợp chúng một cách đầy đủ vào cơ cấu pháp lý của GATT. Trong khi những quy tắc cũ chỉ ràng buộc bên nào có tham gia ký tên, việc tích hợp những thỏa thuận này vào cơ cấu của GATT có nghĩa là nhiều quốc gia phải cam kết gia tăng đáng kể các nghĩa vụ pháp lý của họ. Như đã giải thích trong chương 3, gia nhập tổ chức WTO mới có nghĩa là một “cam kết duy nhất”, nghĩa là các thành viên phải chấp nhận tất cả những thỏa thuận đa phương mà Vòng Uruguay đã ký kết. Đối với phần lớn các thành viên, tập hợp những lợi ích của việc trở thành thành viên WTO đồng nghĩa với một sự gia tăng đáng kể về nghĩa vụ. Ngoài ra, nhiều thành viên nhận thấy các quy tắc mới đã lạc vào những công cụ mà theo truyền thống họ đã sử dụng để đáp ứng những mục tiêu chính sách đối nội. Chính vì vậy, việc củng cố những bộ luật là bước đi chủ yếu trong công cuộc xây dựng một hệ thống thương mại đa phương.
Vòng Uruguay nói riêng đã tạo cơ hội củng cố và hiệu chỉnh lại những quy tắc về biện pháp bảo đảm thương mại công bằng. Biện pháp bảo đảm thương mại công bằng là những phản ứng của quốc gia trước những thay đổi trong việc nhập khẩu có thể đe dọa khả năng phát triển của các ngành công nghiệp trong nước. Nói chung những phản ứng này bao gồm cơ chế hạn ngạch hoặc thuế suất bổ sung nhưng cũng có thể thực hiện dưới hình thức trợ cấp các ngành công nghiệp có hên quan hoặc cho các công nhân bị mất việc. Trong những cuộc thảo luận gây tranh cãi nhất về các bộ luật này có những cuộc thảo luận quan tâm đến vấn đề bằng cách nào các chính phủ có thể phản ứng với làn sóng nhập khẩu dâng trào và với mối đe dọa tiềm tàng hoặc thực tế có thể gây tổn thương cho các doanh nghiệp trong nước. Những cuộc thảo luận này đưa tới kết quả là sự ra đời nhiều thỏa thuận đa phương mới về Hành động tự vệ, chống bán phá giá, những hình thức trợ cấp được cho phép và các sắc thuế bù thiệt hại. Đặc điểm chính của ba thỏa thuận mới này, nhìn từ quan điểm mở rộng tầm ảnh hưởng các quy tắc thương mại, là mỗi thỏa thuận đều đòi hỏi phải thu thập thông tin ở phía sau biên giới (trong việc nhập khẩu và ở những địa điểm thích hợp của quốc gia xuất khẩu) và được tiếp cận trong một tiến trình rõ ràng minh bạch. Những thỏa thuận mới trong lĩnh vực này cung cấp sự hướng dẫn chi tiết cho những bằng chứng, những trình tự mà các chính phủ phải theo khi áp dụng các chính sách này và hỗ trợ cơ chế dàn xếp tranh chấp để các quốc gia có nghĩa vụ phải đi theo những quy tắc đó.
3. Thảo luận về vấn đề trợ cấp trong vòng đàm phán Uruguay
Những cuộc đàm phán về trợ cấp thì ít khó khăn hơn là thảo luận về chống bán phá giá, một phần vì sự liên minh giữa các quốc gia thành viên cũng đã khác. Nội dung việc xem xét lại trợ cấp của Vòng Uruguay vừa nhằm gia tăng phạm vi các chính sách bắt buộc phải phù hợp với quy định của GATT, vừa làm sáng tỏ những điều kiện mà theo đó Thuế đối kháng sẽ được coi là hợp pháp khi đối mặt với những hành vi bất nhất của một thành viên. Hoa Kỳ quan tâm sâu sắc nhất đến khía cạnh thứ nhất của các cuộc thảo luận: các nhà thương thuyết Hoa Kỳ muốn có một cơ chế cấm được càng nhiều càng tốt các hình thức trợ cấp từ chính phủ, trừ phi sự trợ cấp là một phần của chương trình khoa học hoặc môi trường. Căn cứ vào lập trường của Hoa Kỳ về Thuế đối kháng, phần lớn các quốc gia khác đều muốn quan tâm tới khía cạnh thứ hai của vấn đề, nghĩa là các điều kiện hợp pháp của việc trừng phạt.
4. Tiêu điểm của cuộc thảo luận
Trái với thất bại của những cuộc thương thuyết liên quan đến vấn đề thuế chống bán phá giá, một đề nghị ban đầu của ban thư ký về việc phân biệt các kiểu trợ cấp, theo sau những ý tưởng mà được thúc đẩy bởi Hoa Kỳ và Thụy Sỹ đã trở thành tiêu điểm của các cuộc thảo luận. Một khung mẫu gồm có ba phần, được biết tới như là cách tiếp cận “đèn tín hiệu giao thông” đã được chấp nhận. Khung mẫu này chia trợ cấp thành ba nhóm: bị cấm (đỏ), có thể khiếu nại được (vàng) và không thể khiếu nại được (xanh) (Croome 1995, 62-63, 171-173). Trong lúc các quốc gia bất đồng ý kiến về việc xếp các chính sách vào nhóm nào (ví dụ Hoa Kỳ nghĩ rằng gần như không có khoản trợ cấp nào được xếp vào nhóm xanh ngoại trừ những trợ cấp cho nghiên cứu khoa học và chính sách môi trường), song bộ khung pháp lý này cũng đã tạo ra một ngôn ngữ chung, một mục tiêu chung cho các cuộc thương thuyết. Trong suốt quá trình thảo luận, các nhóm nói trên lần lượt được xác định theo từng cấp độ mà theo đó một hành vi có thể bị coi là làm lệch lạc thương mại. Trợ cấp nông nghiệp, một vấn đề mà EC luôn coi là thuộc phạm vi thảo luận của nhóm công tác về nông nghiệp, lúc đầu đã không được bao hàm vào nhưng dần dần cũng đã được bao quát ngay sau khi Peace Clause hết hạn vào năm 2004.
5. Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng
Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (gọi tắt là thỏa thuận SCM) đã xác định rõ về vấn đề trợ cấp hơn là những tài liệu trước đó. Bản thỏa thuận, tuy không bao gồm các sản phẩm nông nghiệp nhưng đã xác định rõ nhóm bị cấm bao gồm những trợ cấp có điều kiện như thành tích xuất khẩu hoặc buộc sử dụng sản phẩm trong nước thay cho sản phẩm nhập khẩu. Đối vón những hình thức trợ cấp nằm trong nhóm bị coi là có thể khiếu nại được, Thuế đối kháng chỉ được coi là hợp pháp khi một khoản trợ cấp nào đó dẫn tới sự thương tổn nghiêm trọng và khi sản phẩm đó được trợ cấp nhiều hơn 5%. Quan niệm về mức tối thiểu (de mimimis) này được xác định là ít hơn 1% hàng nhập khẩu đối với các nước đã phát triển, và ít hơn 2 hoặc 3%, tùy thuộc vào mức thu nhập, của các quốc gia khác. Loại trợ cấp được cho phép và không thể khiếu nại được bao gồm một số hình thức trợ cấp không chỉ hướng tới hoạt động nghiên cứu và môi trường mà còn hướng tới các hoạt động phát triển khu vực. Và bằng cách sử dụng quan niệm rằng thỏa thuận chỉ giới hạn các trợ cấp “đặc thù” với một ngành công nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp nào đó, thỏa thuận đã loại trừ một cách hiệu quả các khoản trợ cấp chung bao hàm rất nhiều ngành kinh tế như chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ thu nhập, hoặc giáo dục công. Các nước đang phát triển thì nhận được sự đối xử đặc biệt mặc dù chỉ các quốc gia nào có thu nhập bình quân đầu người dưới mức một ngàn đô-la Mỹ/năm thì mới được trợ cấp xuất khẩu mà không sợ bị trả đũa. Các nước đang phát triển khác thì phải loại bỏ những khoản trợ cấp như vậy trong vòng tám năm. Tầm quan trọng của điều luật này rất ít được hoan nghênh bởi vì quyết định được ban hành mà không biết đến những thay đổi về thể chế dẫn tới việc bắt buộc áp dụng một “cam kết duy nhất”. Kết quả là thỏa thuận đã không tạo được sự hài lòng như mong đợi của các bên liên quan.