1. Mở đầu vấn đề

Nguồn gốc của mối quan hệ với nước thứ ba của EFTA có từ năm 1967 khi các Nhà nước EFTA còn là một nhóm thiết lập hợp tác với Nam Tư trước đây, một nước không phải thành viên, thành một nhóm công tác chung. Trong năm 1983, mối quan hệ này trở nên chính thức hơn theo tên gọi là Tuyên bố Bergen và việc hình thành một uỷ ban chung Nam Tư - EFTA, họp hàng năm cho đến khi Nam Tư tan rã.

2. Đôi nét về EFTA

Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) được thành lập ngày 3.5.1960 như một khối mậu dịch khác cho các nước châu Âu, do không đủ khả năng hoặc chọn không gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) thời đó (nay là Liên minh châu Âu (EU)).

Hiệp ước EFTA được ký ngày 4.1.1960 tại Stockholm bởi 7 nước bên ngoài (Cộng đồng kinh tế châu Âu thời đó). Ngày nay chỉ còn Iceland, Na Uy, Thụy Sĩ và Liechtenstein vẫn còn là hội viên của EFTA (trong đó Na Uy và Thụy Sĩ là các hội viên sáng lập). Sau đó, Hiệp ước Stockholm được thay thế bằng Hiệp ước Vaduz.

Hiệp ước này cho phép tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên. Ba nước hội viên EFTA là thành phần của Thị trường chung Liên minh châu Âu thông qua Thỏa ước về Khu vực kinh tế châu Âu (EEA), có hiệu lực từ năm 1994. Nước hội viên thứ tư của EFTA – Thụy Sĩ - chọn ký kết một thỏa ước song phương với Liên minh châu Âu. Ngoài ra, các nước EFTA cũng ký chung các thỏa hiệp mậu dịch tự do với nhiều nước khác.

Năm 1999 Thụy Sĩ ký một bộ thỏa hiệp song phương với Liên minh châu Âu bao trùm nhiều lãnh vực, trong đó có sự phá bỏ các hàng rào cản trở buôn bán như việc di chuyển nhân công cùng vận tải hàng hóa và kỹ thuật giữa đôi bên. Sự tiến triển này thúc đẩy các nước EFTA hiện đại hóa Hiệp ước của mình để bảo đảm là sẽ tiếp tục tạo ra một khuôn khổ đầy thành công cho việc mở rộng và tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên và với thế giới.

Các cuộc đàm phán cuối cùng dẫn đến ký kết Công ước Stockholm tiến hành tại Saltjoebaden, một khách sạn nghỉ mát cạnh bờ biển Stockholm. Công ước này đầu tiên được ký kết ngày 4.1.1960 bởi các vị Bộ trưởng của Áo, Đan mạch, NaUy, Bồ Đào Nha, Thuy Điển Thuy Sĩ và Anh. Phần Lan trở thành một thành viên dự bị của Hiệp hội vào năm 1961 và tham gia đầy đủ vào Hiệp hội năm 1986 khi tình hình chính trị đã chín muồi cho một thành viên đầy đủ. Ngày nay, EFTA bao gồm Iceland (tham gia năm 1970), Liechtenstein (1991 )(2), Na Uy và Thuy Sĩ. Nước Anh và Đan Mạch ròi bỏ Hiệp hội năm 1972, Bồ Đào Nha năm 1985, Áo, Phần Lan và Thuy Điển vào cuối năm 1994. Tất cả cấc nước này gia nhập EC.

EFTA là một khu vực thương mại tự do đầy đủ nhất phù họp với Điều XXIV của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Công ước Stockholm bao trùm thương mại đối với các sản phẩm công nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chế biến, cá và các hải sản khác. Các sản phẩm nông nghiệp được đề cập trong các thoả thuận song phương (trao đổi thư tín) giữa tùng quốc gia EFTA, nhưng cần nhận rằng bất cứ thuế quan hoặc nhân nhượng nào dành cho một quốc gia EFTA khác trong hiệp định song phương cũng sẽ tự động áp dụng cho mọi quốc gia thành viên khác của EFTA, do vậy đảm bảo tính chất đa phương của các thoả thuận này. Người ta có thể coi đặc tính này như một loại đối xử tói huệ quốc ưu đãi “định sẵn”.

Mặc dù nguyên nhân trực tiếp nhất tạo ra EFTA có thể là mối đe doạ của sự phân biệt kinh tế từ lúc EEC mới thành lập, nhưng EFTA vẫn được xem là một cách thức lựa chọn của sự họp tác và hội nhập châu Âu. Về mặt chính trị, EFTA cũng hấp dẫn hơn đối với 3 thành viên sáng lập trung lập và Anh quốc, một quốc gia đã không muốn dâng các quyền lợi và nghĩa vụ của Khối Thịnh vượng chung hoặc mối quan hệ Đại Tây Dương đặc biệt cho Mỹ. Không cố trở thành một đối thủ của EEC, các quốc gia EFTA mong muốn chứng minh rằng một khu vục mậu dịch tự do có thể hoạt động hiệu quả và góp phần tích cực vào công cuộc hội nhập kinh tế ở Tây Âu.

3. Mục tiêu sáng lập EFTA

Mục tiêu cuối cùng của các nhà sáng lập EFTA, như đã giới thiệu trong phần mở đầu của Công ước Stockholm là “tạo thuận lợi cho việc sớm thành lập một hiệp hội đa phưong để dỡ bỏ các rào cản thưong mại và khuyến khích họp tác kinh tế chặt chẽ hon nữa giữa các thành viên của Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu, bao gồm cả các thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu”. Mục tiêu này trên thục tế đã đạt đuợc bằng việc ký kết các hiệp định thưong mại tự do song phưong giữa cấc nước EFTA và EEC năm 1972/73, việc liên tiếp gia nhập của các nước nguyên là EFTA vào EEC/EC/EU và việc ký kết Hiệp định Khu vục Kinh tế Châu Âu (EEA) năm 1992.

4. Quan hệ với nước thứ ba của EFTA

Hiệp định thương mại tự do đầu tiên được đàm phân bởi một nhóm Nhà nước EFTA với Tây Ban Nha. Kết thúc năm 1979 với quan điểm phải hoàn thành hệ thống thương mại tự do châu Âu và đảm bảo rằng các nhà xuất khẩu EFTA cũng bình đẳng với các nhà xuất khẩu của các nước EC trong buôn bán vói Tây Ban Nha. Hiệp định EFTA-Tây Ban Bha có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1980 và hết hạn ngày 31.12.1985 khi Tây Ban Nha gia nhập EC. Quan hệ thương mại giữa Tây Ban Nha và EFTA sau này được bảo hộ bởi các hiệp định thương mại tự do song phương có hiệu lực giữa từng Nhà nước Thành viên EFTA và EEC.

Tuyên bố Bergen và Hiệp định EFTA - Tây Ban Nha cùng với các hiệp định thương mại tự do đã đàm phán giữa từng Nhà nước Thành viên EFTA vói EC- và một vài phạm vi Công ước Stockholm - tạo nên một khuôn mẫu cho các tuyên bố và các hiệp định thương mại tự do được EFTA ký kết từ năm 1989.

Sự khởi đầu thực sự của việc phất triển tích cực mối quan hệ với nước thứ ba của các quốc gia EFTA được khởi động bởi những thay đổi chính trị lớn ở Đông Âu trong năm 1989, khi EC bắt đầu các cuộc đàm phán đầu tiên về cái gọi là các Hiệp định châu Âu với các quốc gia Trung và Đông Âu (CEECs). Những hiệp định này báo trước thương mại tự do tất yếu trong công nghiệp giữa EC và những nước đó có thể dẫn đến một tình huống các nhà điều hành kinh tế tại các nước EFTA đối mặt với sự phân biệt kinh tế trong thị trường so với cấc nhà cạnh tranh EC. về phần này cần phải ghi nhận rằng từ những năm đầu của thập kỷ 70, Phần Lan đã có các hiệp định thương mại tự do không chỉ với Liên Xô mà còn cả với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác. Vào tháng 6 năm 1990, các nước EFTA họp tại Gothenburg quyết định bắt đầu xây dựng một mạng lưới các hiệp định mậu dịch tự do song song của riêng của họ đê đoi lại sự “phân biệt đối xử” tiềm năng này. Nhưng quá trình đó không bị quyền lợi ích kỷ riêng dẫn dắt; các Nhà nước EFTA, giống như EC, cũng mong muốn được góp phần xây dựng lại các nước XHCN trước đây bằng cách khuyến khích các nguyên tắc kinh tế thị trường và, theo nghĩa rộng, đem lại sự phồn vinh kinh tế để củng có sự ổn định và tăng cường dân chủ. Trong những năm đầu 90, các Nhà nước EFTA đã ký các hiệp định thương mại tự do với các nước Trung và Đông Âu, và bắt đầu một chương trình •trợ giúp kỹ thuật. Ngoài ra, các nước EFTA còn cung cấp các trợ giúp tài chính song phương cho các nước đối tác này.

Song song với quá trình phát triển này, nhưng chủ yếu để phản ứng đối với việc phân biệt đối xử mà các nhà điều hành kinh té EFTA phải đói mặt trực tiếp với câc nhà cạnh tranh từ cấc nước EC hay từ Mỹ, các Nhà nước EFTA cũng đàm phân với Israel và Thổ Nhĩ Kỳ đê thành lập một khu vực thương mại tự do. Hiệp định với Thổ Nhĩ Kỳ được ký vào năm 1991 và với Israel năm 1992.

Việc ra đi của Áo, Phần Lan, và Thuy Điển vào cuối năm 1994 không làm suy yếu mà có thể củng có quyết tâm của cấc nước EFTA trên con đường của họ. Mười hai năm sau cuộc họp đầu tiên tại Bergen, các Bộ trưởng EFTA lại gặp nhau tại Bergen vào tháng 6.1995 đê tuyên bó ý định tiếp tục theo đuôi và tăng cường những nỗ lực trong các quan hệ với nước thứ ba trong và ngoài châu Âu. Như một biểu hiện của chính sách hướng ra bên ngoài, 4 nước EFTA vẫn duy trì các hiệp định thương mại tự do với Estonia, Latvia, Lithuania và Slovenia vào năm 1995 và gần đây với

Marocco và Tổ chức Giải phóng Palestin (PLO) thay mặt cho chính quyền Palestin.

Ngày nay, các Nhà nước EFTA đã có quan hệ ký kết chung với không ít hon 20 đối tác. Các hiệp định mậu dịch tự do đầy đủ đã ký với 14 nước: Bulgari, Czech, Estonia, Hungari, Israel, Latvia, Lithuania, Morocco, Palestin, Ba Lan, Rumani, Slovac, Sloven và Thổ Nhĩ Kỳ. Các tuyên bố vê hợp tác, thường là bước đầu tiên trên con đường dẫn đến hiệp định mậu dịch tự do, đã ký với 6 nước : Albani, Egypt, Jordan, Lebanon, Macedonia và Tunisia.

Việc mở rộng mạng lưới các hiệp định đối với các nước Địa Trung Hải là một hiển thị rõ ràng rằng, EFTA chia sẻ tinh thần của quá trình được khởi đầu vào năm 1995 tại Hội nghị Barcelona mà một ý muốn chính trị theo một vài cách có thể so sánh với các vấn đề của 5 năm trước đó, đưa đến việc ký kết các hiệp định với các nước cộng sản trước đây. Thêm vào các hiệp định ký với Israel, Marocco, PLO và Thổ Nhĩ Kỳ, các cuộc đàm phán về tự do thương mại cũng đang được tiến hành với Sypus, Egypt, Jor­dan, Tunisia. Cấc cuộc thảo luận có tính chất thăm dò vói Malta cũng đang được thực hiện.

“Hội nghị Barcelona đã diễn ra vào ngày 27 và 28 tháng 11 năm 1995 giữa EU và 11 nước khác không là thành viên vùng Địa Trung Hải và PLO. Hội nghị đã thiết lập quan hệ đối tác châu Âu - Địa Trung Hải thông qua một tuyên bố chung gồm 3 lĩnh vực hợp tác chính: (1 )Hợp tác kinh tế và tài chính, (2) Tăng cường đối thoại chính trị thường xuyên, và (3) Chú trọng hơn nữa về con người, xã hội và văn hoá. Tuyên bố khẳng định, không kể những cái khác, rằng đến năm 2010, một khu vực mậu dịch tự do sẽ được thành lập tại vùng Địa Trung Hải thông qua một Hiệp định “Quan hệ đối tác” giữa EU vớ icác dối tác Địa Trung Hải và các hiệp định thương mại tựdo trong số các nước kể sau. Từ đó nhiều hội nghị tiếp theo diễn ra để kiểm tra tiến trình thực hiện tuyên bố này”.

Vài nét tóm tắt trên về mối quan hệ với nước thứ 3 của EFTA sẽ không đầy đủ nếu không chú ý đến vấn đề quan trọng nhất về luỹ tích ở châu Âu. Mạng lưới các hiệp định song song của EFTA và EC tạo ra những vấn đề kỹ thuật của sự tương thích. Ví dụ một sản phẩm được tạo ra bởi những chi tiết được sản xuất tại Hungari và Thuy Sĩ sẽ không được tính miễn thuế khi đưa vào EC mặc dù cả Hungari và Thuy Sĩ, nói riêng, đều được hưởng quy chế thương mại tự do với EC. Việc loại trừ vấn đề này đã được ưu tiên hàng đầu đối vói các Nhà nước EFTA trong nhiều năm và, từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, sự kiên trì của họ đã được đền bù khi các quy tắc xuất xứ Liên Âu (pan-European) bắt đầu đưa vào thực hiện 4). Đó là điều quan trọng đặc biệt đối với các ngành công nghiệp như dệt may, và cũng còn nhiều nghi ngại rằng liệu có bất kỳ nước EFTA riêng biệt nào đó có thể giành được kết quả tốt đẹp cho riêng mình hay không. Những thành công thuộc loại này nhấn mạnh sự hữu ích tiếp theo của một tổ chức như EFTA đối với các thành viên của mình và như một cầu thủ chủ chốt trong sân choi hội nhập kinh tế châu Âu.

Khi các Nhà nước EFTA đầu tiên có ý đồ hướng ra ngoài biên giới trực tiếp của châu Âu, họ nhấn mạnh tầm quan trọng tối thượng của châu Âu trong việc tạo lập các mối liên kết mạnh mẽ vói các đối tâc thương mại bên ngoài đại lục này. Các hiệp định ưu đãi với các đối tác ngoài châu Âu sẽ ngày càng quan trọng trong sự phát triển quâ trình toàn cầu hoá.

EFTA coi họ như là một sự bổ sung đối với hệ thống thương mại đa phương và là những khối tạo nên tự do hoá thương mại toàn cầu. Từ khi mở các cuộc đàm phán với Canada nhằm mục đích tạo ra khu vực thương mại tự do đầu tiên xuyên Đại Tây Dương, câc nước EFTA đã thể hiện rằng họ cũng đang cân nhắc để đàm phán với các nước khác, như Mexico, Chile và Nam Phi.

5. Kết thúc vấn đề

Các nước EFTA đã thiết lập các mối giao tiếp không chỉ vói các nước đối tác riêng biệt mà còn với các nhóm nước có tính chất khu vực như GCC, MERCOSUR, ASEAN và đang đề xuất ký kết các thoả thuận họp tấc chặt chẽ hơn nữa vơi GCC và MERCOSUR.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)