1. Khái quát chung về EFTA

1.1. Giới thiệu về sự ra đời của EFTA

Cuối những năm 50, các cuộc tranh luận nhằm tạo ra một khu vực thương mại tự do rộng rãi tại châu Âu đã được tiến hành dưới sự bảo ttợ của Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC), sau này được biết đến là Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

OEEC là tổ chức bảo trợ, được thành lập đầu tiên như một cơ quan phối hợp cho viện trợ Marshall sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Các cuộc đàm phán trong OEEC, hay trong cái gọi là uỷ ban “Maulding” đi đến bế tắc do các nước thành viên có những khái niệm khác nhau về hội nhập kinh tế châu Âu. Mặt khác, 6 thành viên trong số đó (Bỉ, Hà Lan, Luxemburg, Pháp, Đức và Italia) đã dự tính châu Âu thống nhất như một Nhà nước Liên bang hay Liên bang các Quốc gia. Điều này bao gồm việc thành lập một liên minh thuế quan với một thị trường thống nhất, kể cả kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp. Những thể chế siêu quốc gia và hệ thống pháp luật hài hoà là những nỗ lực nhằm đạt mục đích này. Mặt khác, quan điểm này chủ yếu được Anh tấn thành, nhưng có 6 nước khác ủng hộ đồng tình việc nới lỏng hình thức hiệp hội thương mại tự do mà không cần các thể chế siêu quốc gia, cho phép các quốc gia duy trì chủ quyền; chỉ loại bỏ thuế quan đối với các sản phẩm công nghiệp.

Các cuộc đàm phán tiếp theo giữa nhóm 6 nước dẫn đến kết quả ký kết Điều ước Roma và thành lập Cộng đồng Kinh té châu Âu (EEC) năm 1957, sau này phát triển thành Cộng đồng Châu Âu (EC) và gần đây là Liên minh châu Âu (EU). Cũng cần ghi nhận rằng cội nguồn của chính sách thị trường chung do Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, ông Robert Schuman đề ra từ năm 1950, phát biểu ý kiến thiết lập sự kiểm soát siêu quốc gia của châu Âu đối với sản xuất thép và dự trữ than. Điều đó dẫn tới việc thành lập Cộng đồng than và thép châu Âu năm 1951.

Như một phản ứng đối với sự phát triển này, các nước Tây Âu còn lại tiếp tục tranh cãi về các lựa chọn hội nhập khác. Rõ ràng là các nước trung lập (Áo, Thuy điển, Thuy Sĩ) không sẵn sàng hy sinh vị trí chính trị của họ trong khi Anh có lý do khác để đứng ngoài việc vận động tiến tới một liên minh thuế quan. Tuy nhiên, mô hình của Điều ước Roma có sức lôi cuốn đối với nhiều chính khách ở những nước còn đúng ngoài. Hầu hết những cuộc tranh luận rộng rãi diễn ra tại 4 nước Bắc Âu (Đan Mạch, Phần lan, Na Uy và Thuy Điển), các nước này đang trong một giai đoạn gần kề với việc thành lập một liên minh thuế quan, nhưng thay vào đó, năm 1959 họ thoả thuận thiết lập Hội đồng Bắc Âu, một diễn đàn hợp tác kinh tế.

Cuối cùng, csc cuộc đàm phán giữa nhóm “7 nước bên ngoài” kết thúc vào tháng 1/1960 bằng việc ký kết Công ước Stockholm, đặt nền tảng cho hiến chương của Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA). Phần Lan bày tỏ quan tâm chính trị trong các kế hoạch tạo ra một một khu vực thương mại tự do, nhưng lại không tham dự các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, họ lại nhanh chóng bước vào đàm phán với các nước EFTA và tháng 5.1960 ký kết một thoả thuận hiệp hội tại cuộc hợp Bộ trưởng EFTA tại Lisbon. Thoả thuận này còn gọi là FINEFTA. Đối với Phần Lan, hiệp định này quan trọng cho việc củng cố các quan hệ thương mại đặc biệt với Liên xô song song với giải pháp EFTA. Điều đó đạt được bằng việc ký kết một hiệp định về thuế quan (thương mại tự do) với Liên Xô hồi đó.

Hiệp ước này cho phép tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên. Ba nước hội viên EFTA là thành phần của Thị trường chung Liên minh châu Âu thông qua Thỏa ước về Khu vực kinh tế châu Âu (EEA), có hiệu lực từ năm 1994. Nước hội viên thứ tư của EFTA là Thụy Sỹ cũng chọn kí kết một thỏa ước song phương với Liên minh châu Âu. Ngoài ra, các nước EFTA cũng kí chung các thỏa hiệp mậu dịch tự do với nhiều nước khác.

Năm 1999 Thụy Sỹ kí một bộ thỏa hiệp song phương với Liên minh châu Âu bao trùm nhiều lãnh vực, trong đó có sự phá bỏ các hàng rào cản trở buôn bán như việc di chuyển nhân công cùng vận tải hàng hóa và kĩ thuật giữa đôi bên. Sự tiến triển này thúc đẩy các nước EFTA hiện đại hóa Hiệp ước của mình để bảo đảm là sẽ tiếp tục tạo ra một khuôn khổ đầy thành công cho việc mở rộng và tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên và với thế giới.

1.2. Nền tảng của EFTA

Các cuộc đàm phán cuối cùng dẫn đến ký kết Công ước Stockholm tiến hành tại Saltjoebaden, một khách sạn nghỉ mát cạnh bờ biển Stockholm. Công ước này đầu tiên được ký kết ngày 4.1.1960 bởi các vị Bộ trưởng của Áo, Đan mạch, NaUy, Bồ Đào Nha, Thuy Điển Thuy Sĩ và Anh. Phần Lan trở thành một thành viên dự bị của Hiệp hội vào năm 1961 và tham gia đầy đủ vào Hiệp hội năm 1986 khi tình hình chính trị đã chín muồi cho một thành viên đầy đủ. Ngày nay, EFTA bao gồm Iceland (tham gia năm 1970), Liechtếnstếin (1991 )(2), Na Uy và Thuy Sĩ. Nước Anh và Đan Mạch ròi bỏ Hiệp hội năm 1972, Bồ Đào Nha năm 1985, Áo, Phần Lan và Thuy Điển vào cuối năm 1994. Tất cả các nước này gia nhập EC.

EFTA là một khu vực thương mại tự do đầy đủ nhất phù hợp với Điều XXIV của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Công ước Stockholm bao trùm thương mại đối với các sản phẩm công nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chế biến, cá và các hải sản khác. Các sản phẩm nông nghiệp được đề cập trong các thoả thuận song phương (trao đổi thư tín) giữa tùng quốc gia EFTA, nhưng cần nhận rằng bất cứ thuế quan hoặc nhân nhượng nào dành cho một quốc gia EFTA khác trong hiệp định song phương cũng sẽ tự động áp dụng cho mọi quốc gia thành viên khác của EFTA, do vậy đảm bảo tính chất đa phương của các thoả thuận này. Người ta có thể cối đặc tính này như một loại đối xử tới huệ quốc ưu đãi “định sẵn”.

Mặc dù nguyên nhân trực tiếp nhất tạo ra EFTA có thể là mối đe doạ của sự phân biệt kinh tế từlúc EEC mới thành lập, nhưng EFTA vẫn được xem là một cách thúc lựa chọn của sự hợp tác và hội nhập châu Âu. về mặt chính trị, EFTA cũng hấp dẫn hơn đối với 3 thành viên sáng lập trung lập và Anh quốc, một quốc gia đã không muốn dâng các quyền lợi và nghĩa vụ của Khối Thịnh vượng chung hoặc mối quan hệ Đại Tây Dưong đặc biệt cho Mỹ. Không cố trở thành một đối thủ của EEC, các quốc gia EFTA mong muốn chứng minh rằng một khu vục mậu dịch tự do có thể hoạt động hiệu quả và góp phần tích cục vào công cuộc hội nhập kinh tế ở Tây Âu. Mục tiêu cuối cùng của các nhà sáng lập EFTA, như đã giới thiệu trong phần mở đầu của Công ước Stockholm là “tạo thuận lợi cho việc sớm thành lập một hiệp hội đa phưong để dỡ bỏ các rào cản thương mại và khuyến khích hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn nữa giữa các thành viên của Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu, bao gồm cả các thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu”. Mục tiêu này trên thực tế đã đạt đuợc bằng việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phưong giữa các nước EFTA và EEC năm 1972, 1973, việc liên tiếp gia nhập của các nước nguyên là EFTA vào EEC/EC/EU và việc ký kết Hiệp định Khu vục Kinh tế Châu Âu (EEA) năm 1992.

2. Mục đích và hoạt động của EFTA

Mục tiêu dài hạn của EFTA là phát triển phúc lợi và tiến bộ kinh tế của các Nhà nước Thành viên, góp phần phát triển hàỉ hoà và mở rộng thương mại thế giới, dỡ bỏ từng bước các rào cản thương mại.

Mục tiêu cụ thể đầu tiên - loại bỏ thuế quan và các hạn chế số lượng đối với các sản phẩm công nghiệp - đã thực hiện thành công. Tự do thương mại về các sản phẩm công nghiệp đã hoàn thành năm 1996, trước 3 năm so với kế hoạch - và sớm hơn trong phạm vi EEC. Đạt được thành tựu này là nhờ các quy tắc xuất xứ nêu trong Công ước Stockholm, điều cốt yếu cho sự vận hành một khu vực mậu dịch tự do, cũng như các điều khoản liên quan đến những thông lệ hạn chế thương mại, viện trợ chính phủ và những doanh nghiệp công. Các quy tắc được thiết kế nhằm đảm bảo việc cạnh tranh công bằng trong thương mại bằng việc phòng ngừa những trở ngại đặt ra để bù đắp lại những lợi ích đã dự kiến từ việc dỡ bỏ hay thiếu hụt thuế và các hạn chế số lượng. Công ước cũng chứa đựng những điều khoản liên quan đến các lĩnh vực khác như bảo hộ, phá giá, trợ cấp nhập khẩu - phần lớn trong số đó thể hiện các đặc tính thông thường của một hiệp định thương mại hoạt động tự do.

Do việc làm hài hoà các bộ luật không nhằm cho nội bộ EFTA, nên các vấn đề thương mại phát sinh từ yêu cầu bản chất kỹ thuật sản phẩm quốc gia khác nhau phải được xử lý trên cơ sở riêng biệt khi cần thiết. Tuy vậy nhằm loại bỏ các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, năm 1964 một thủ tục đã được tất cả các nước trong EFTA tiến hành thông báo .trước về các thông tin hoặc các quy định kỹ thuật mối hoặc sửa đối. Thủ tục này, tuy vẫn còn tác dụng đến nay nhưng có phần được cải tiến , thay thế phần lớn bằng một thủ tục tương tự trong EEA, đây là một trong những nỗ lực đầu tiên để đảm bảo sự minh bạch trong lĩnh vực pháp chế kỹ thuật để tham khảo trổng trường hợp rào cản thương mại có thể xuất hiện. Chỉ đến sau này, vào năm 1978, do kết quả của các cuộc đàm phán Vòng Tokyo của GATT mà các thủ tục tương tự mới được đưa vào hiệp định mới về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại.

EFTA đã lưu ý đặc biệt đối với các trường hợp đa dạng kinh tế như tình hình ở Bồ Đào Nha, ở nước này vào giữa những năm 1970 vẫn còn tranh cãi nhau về nền dân chủ và đồng thời đứng trước một tình hình kinh tế nguy kịch. Sau khi thùa nhận một chính sách phản ânh tốc độ phát triển khác nhau và cơ cấu lại nền công nghiệp Bồ đào Nha, năm 1975, các nước EFTA đồng ý lập Quỹ Phát triển Công nghiệp EFTA cho Bồ Đào Nha, Quỹ này bắt đầu hoạt động từ tháng 2 năm 1977. Việc sử dụng đồng thời các lợi ích của thương mại tự do trong EFTA, Quỹ đã chứng minh là cơ chế hữu dụng trong việc kích thích đầu tư mang lại lợi ích tại Bồ Đào Nha. Vì thế có sự thống nhất Quỹ tiếp tục hoạt động sau khi Bồ Đào Nha gia nhập EC 1986. Quỹ hiện nay vẫn còn hoạt động và đã chứng minh là một thành công về mặt tài chính đối với tất cả các bên liên quan; hơn nữa, không phụ thuộc vào Quỹ, nhưng do kết quả tất yếu của thương mại tự do, từ năm 1960 đến năm 1985 xuất khẩu của Bồ Đào Nha sang các nước EFTA khác đã tăng gấp 40 lần, trong khi đó xuất khẩu của nứoc này ra Thế giới nói chung chỉ tăng 18 lần.

Trong bối cảnh này cần tiến hành tham khảo cơ chế tài chính trong Khu vực kinh tế châu Âu (EEA), trong đó các nước thành viên EEA/EFTA cam kết với nhau ủng hộ các lĩnh phát triển trong một thị trường thống nhất. Một hệ thống song song với quỹ nói trên là Quỹ Kết hợp, cũng tồn tại trong EU. Hiệp định ban đầu về cơ chế tài chính này đã thoả thuận hết hạn vào cuối năm 1998, nhưng các quốc gia EFTA/EEA đã dàn xếp một thoả thuận tài chính mối cho giai đoạn 1999-2003.

Là một hiệp định thành lập một khu vực mậu dịch tự do, Công ước EFTA không đưa ra những quyền lực siêu quốc gia. EFTA được điều hành bởi một hội đồng, nơi mà các Nhà nước Thành viên có thể tham khảo, đàm phán và cùng nhau hành động. Hội đồng bao gồm đại diện của mỗi Nhà nước Thành viên, mỗi nước có một phiếu biểu quyết. Tại Hội đồng, có quyền thực thi quyền hành hoặe ở cấp Bộ trưởng hoặc ở cấp viên chức. Các quyết định của Hội đồng thường dựa trên sự đồng thuận. EFTA ngày nay, do. một Ban Thư ký tương đối nhỏ phục vụ và một Tổng Thư ký lãnh đạo, có trụ sở chính tại Geneva và các văn phòng tại Bruxell và Luxemboug.

3. Mối quan hệ giữa Việt Nam và EFTA

Ý tưởng hình thành Khu vực thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam - Thuỵ Sỹ và sau này được mở rộng thành FTA Việt Nam - EFTA được lãnh đạo cấp cao của hai bên trao đổi từ năm 2009. Tháng 5/2010, hai bên chính thức thành lập "Nhóm nghiên cứu hỗn hợp" nhằm xây dựng báo cáo tổng hợp về quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư phục vụ việc đánh giá cơ hội và thách thức từ việc đàm phán và hình thành FTA Việt Nam - EFTA.

Ngày 21/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có côaqng văn chỉ đạo Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành các công việc chuẩn bị và thủ tục đối ngoại cần thiết để khởi động đàm phán FTA giữa Việt Nam và Khối EFTA vào quí I/2012. Cho tới nay, đàm phán Hiệp định FTA Việt Nam - EFTA đã trải qua 16 phiên đàm phán, nhưng do cách tiếp cận ban đầu của hai bên có nhiều khác biệt, do đó, hai bên không thể đạt được kết quả như mong muốn là kết thúc đàm phán trong năm 2014

Về diện mặt hàng, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang các nước thành viên EFTA hàng thuỷ sản, cà phê, hạt điều, sản phẩm từ chất dẻo, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng dệt may, giầy dép, sản phẩm từ sắt thép, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng,... và nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm cơ khí, thiết bị viễn thông, phương tiện giao thông, hoá chất, phân bón, chất dẻo.

Việt Nam có kim ngạch thương mại đáng kể với Thụy Sỹ (kim ngạch 2 chiều năm 2012 đạt khoảng 1 tỉ USD - chiếm 0,23% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, đến năm 2017 con số này giảm chỉ đạt 841 triệu USD), trong khi ở mức thấp với Nauy (kim ngạch hai chiều đạt 257 triệu USD năm 2012, đến năm 2017 con số này là 355 triệu USD) và rất nhỏ với Iceland và Liechtenstein (kim ngạch hai chiều với Iceland chỉ khoảng 2,5 triệu USD năm 2012, năm 2017 là 7,5 triệu USD; kim ngạch 2 chiều năm 2017 với Liechtenstein đạt 30,5 triệu USD).

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)