1. Mục đích của việc ban hành Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân

Xét thấy sự hủy diệt do một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra đối với toàn thể nhân loại và sự cần thiết tất yếu có thể tập trung mọi cố gắng để ngăn ngừa hiểm họa của một cuộc chiến tranh như vậy và tiến hành mọi biện pháp để bảo vệ an ninh cho nhân loại.

Tin tưởng rằng sự phổ biến vũ khí hạt nhân có thể tác động nghiêm trọng đến mối đe dọa chiến tranh hạt nhân,

Phù hợp với Nghị quyết của Tổng Thư ký Liên hợp quốc kêu gọi ký kết một thỏa thuận về ngăn ngừa sự truyền bá vũ khí hạt nhân rộng rãi hơn.

Thực hiện sự hợp tác tạo điều kiện cho việc áp dụng các bảo đảm của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế với các hoạt động hạt nhân vì hòa bình.

Thể hiện sự ủng hộ của mình đối với việc nghiên cứu, phát triển và sự cố gắng nhằm đẩy mạnh việc áp dụng nguyên tắc, trong khuôn khổ hệ thống bảo đảm nguyên tắc của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế, bảo đảm có hiệu quả các vật liệu nguồn và vật liệu phân hạch đặc biệt bằng việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật khác tại các thời điểm chiến lược nhất định.

Khẳng định nguyên tắc rằng các lợi ích của việc ứng dụng hòa bình công nghệ hạt nhân, kể cả mọi sản phẩm phụ mang tính công nghệ có thể do các Quốc gia có vũ khí hạt nhân thu hồi được từ quá trình phát triển các thiết bị nổ hạt nhân, đều được sẵn sàng để tất cả các Quốc gia tham gia Hiệp ước, dù có vũ khí hạt nhân hay không có vũ khí hạt nhân, sử dụng cho mục đích hòa bình.

Tin tưởng rằng, trong khuôn khổ nguyên tắc này, tất cả các Quốc gia tham gia Hiệp ước đều được phép tham gia với khả năng đầy đủ nhất vào việc trao đổi thông tin và đóng góp bằng cách riêng rẽ hoặc bằng cách hợp tác với các Quốc gia khác vào việc phát triển hơn nữa các ứng dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình.

Thể hiện ý định của mình để đạt được sớm nhất việc ngừng chạy đua vũ khí hạt nhân và thực hiện những biện pháp có hiệu quả nhằm giải trừ vũ khí hạt nhân,

Khuyến khích sự hợp tác của tất cả các Quốc gia để đạt được mục tiêu này,

Kêu gọi sự quyết tâm của tất cả các Quốc gia thành viên Hiệp ước năm 1963 về cấm thử vũ khí hạt nhân trên mặt đất, ngoài vũ trụ và dưới nước nhằm tiến đến việc ngừng các vụ nổ vũ khí hạt nhân thử nghiệm ở mọi thời điểm và tiếp tục các cuộc thương lượng về vấn đề này.

Mong muốn làm dịu bớt hơn nữa sự căng thẳng Quốc tế và tăng cường sự tin tưởng giữa các Quốc gia nhằm tạo điều kiện cho việc ngừng sản xuất vũ khí hạt nhân, thanh lý tất cả các kho dự trữ hiện có, và loại trừ vũ khí hạt nhân ra khỏi kho chứa vũ khí Quốc gia vào tạo điều kiện cho việc chuyển giao vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước về giải trừ toàn bộ và đầy đủ dưới sự giám sát quốc tế chặt chẽ và có hiệu quả.

Nhấn mạnh rằng, phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc, trong quan hệ quốc tế của mình, các Quốc gia phải tránh việc đe dọa hoặc sử dụng bạo lực để chống lại chủ quyền lãnh thổ hay độc lập về chính trị của bất kỳ Quốc gia nào hoặc bằng bất cứ cách nào khác không trung thành với mục đích của Liên hiệp quốc, và nhấn mạnh rằng việc thiết lập và duy trì nền hòa bình và an ninh quốc tế cần được tăng cường với sự tiêu hao ít nhất sức người và sức của cho việc trang bị vũ khí.

2. Khái quát về sự hình thành và nội dung cơ bản của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân 

Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân là một trong những văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản của cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 12 tháng 6 năm 1968, Hiệp ước này đã mở đường cho ba nước cùng ký kết Hiệp ước vào ngày 01 tháng 7 năm 1968 tại các thành phố Moskva, Washungton, Luân Đôn và chính thức có hiệu lực từ ngày 05 tháng 3 năm 1970 và theo nội dung này thì các nước Liên Xô, Mỹ và Anh được giao trọng trách theo dõi và thực thi việc thực hiện Hiệp ước này. Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân là hiệp ước về ngăn ngừa việc phổ biến vũ khí hạt nhân và các thiết bị nổ hạt nhân khác, thúc đẩy giải trừ quân bị hạt nhân và sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân... được kí ngày 01.7.1968, có hiệu lực từ ngày 05.3.1970.

Nội dung cơ bản của Hiệp ước là xác lập những nghĩa vụ mà quốc gia thành viên phải thực hiện, như không chuyển giao vũ khí hạt nhân hoặc các bộ nận nổ hạt nhân cho bất cứ thực thể nào, không ếp nhận bất cứ loại vũ khí hạt nhân nào, không tìm kiếm hoặc tiếp nhận sự trợ giúp nào để sản xuất vũ khí hạt nhân, thiết lập các khu vực phi vũ khí hạt nhân, tiến hành giải trừ vũ khí hạt nhân... Hiệp ước cũng quy định việc tổ chức hội nghị quốc tế 5 năm một lần kể từ khi Hiệp ước có hiệu lực để xem xét, đánh giá việc thực hiện Hiệp ước. Tại Hội nghị lần thứ 5 (tháng 5.1995), các quốc gia thành viên đã chính thức thoả thuận gia hạn hiệu lực vĩnh viễn cho Hiệp ước này: Hiện nay, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân có 175 quốc gia thành viên. Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ước từ tháng 6.1982.

Tại Hội nghị tổng kết thường kỳ công tác thực thi Hiệp ước được diễn ra từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 12 tháng 5 năm 1995 tại trụ sở của Liên Hợp quốc ở thành phố New York đã thông qua quyết định mở rông Hiệp ước không giới hạn và không điều kiện. Căn cứ theo quy định của Hiệp ước này các cường quốc hạt nhân được chính thức công nhận là các quốc gia đã tiến hành thử nghiệm vũ khí hạt nhân trước ngày 01 tháng 01 năm 1967 bao gồm các nước: Liên Xô (Nga), Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc

3. Các nước tham gia hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân

Tính đến thời điểm tháng 8 năm 2020 thì đã có tổng cộng là 191 quốc gia trên thế giới tham gia ký kết Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Có hai quốc gia sở có sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng không được quốc tế thừa nhận là cường quốc hạt nhân (vì hai nước này tiến hành thử nghiệm vũ khí hạt nhân sau ngày 01 tháng 01 năm 1967). Hai nước đó là Ấn Độ và Pakistan, hai nước này hiện tạo không còn tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Vào năm 2003 Công hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tuyên bố rời khởi Hiệp ước, trong các năm 2006, 2009, 2013, 2016 và năm 2017 nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đã tiến hành hàng loạt các vụ thử hạt nhân. Một số nước thành viên của Hiệp ước (Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Bỉ...) cho rằng theo Điều 10 của Hiệp ước cần phải có các đảm bảo để việc rút khỏi Hiệp ước sẽ không phải là biện pháp trốn tránh những vi phạm đã thực hiện trong thời gian còn là thành viên. Iran cũng là một nước thành viên của Hiệp ước nhưng đã vi phạm Hiệp ước từ giữa những năm 1980 cho đến tận thời điểm Bản Thỏa thuận kế hoạch hành động toàn diện chung được 6 nước (Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức) ký vào năm 2016 về cùng giám sát chương trình hạt nhân của Iran. Nam Sudan là quốc gia phi hạt nhân nhưng không tham dự Hiệp ước.

4. Những vấn đề mới được thông qua về việc thực hiện hiệp ước 

Điều 1 và Điều 2 của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân được quy định như sau:

"Điều 1.

Từng Quốc gia hạt nhân tham gia Hiệp ước cam kết không chuyển giao cho bất kỳ Quốc gia nào dù là vũ khí hạt nhân hay thiết bị nổ hạt nhân hoặc trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát các vũ khí hay chất nổ như vậy, và không giúp đỡ, khuyến khích hay xúi dục bằng bất kỳ cách nào, bất kỳ Quốc gia phi hạt nhân nào về chế tạo, yêu cầu vũ khí hạt nhân hay các thiết bị nổ hạt nhân hoặc kiểm soát các thiết bị nổ hạt nhân hay vũ khí hạt nhân như vậy".

"Điều 2.

Từng Quốc gia hạt nhân tham gia Hiệp ước cam kết không nhận chuyển giao từ bất kỳ nguồn nào vũ khí hạt nhân hoặc thiết bị nổ hạt nhân hoặc quyền kiểm soát các thiết bị nổ hạt nhân hay vũ khí hạt nhân đó một cách trực tếp hay gián tiếp; không chế tạo hay tìm cách để có vũ khí hạt nhân hoặc thiết bị nổ hạt nhân; và không yêu cầu hay nhận trợ giúp để chế tạo vũ khí hạt nhân hay các thiết bị nổ hạt nhân khác".

 Điều khoản này cũng được áp dụng đối với các thiệt bị gây ra các vụ nổ hạt nhân dùng cho mục đích hòa bình, bởi vì chúng sẽ dễ dàng được chuyển đổi mục đích thành vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên trong thời điểm hiện nay các nước là thành viên thuộc khối NATO đang vi phạm các điều khoản mà hiệp ước đang đặt ra. 

Đặc biệt là Mỹ đã vi phạm điều 1 của Hiệp ước khi sử dụng lực lượng không quân của các nước thành viên NATO, các nước phi hạt nhân để thực hiện kế hoạch tác chiến có sử dụng đầu đạn hạt nhân (được gọi là sứ mệnh hạt nhân chung của NATO). Trong đó bao gồm việc bố trí các đơn vị tác chiến hạt nhân, kế hoạch huấn luyện nhóm phi công điều khiển, sử dụng máy bay mang vũ khí hạt nhân, sân bay và các đơn vị hậu cần đảm bảo mặt đất ở các quốc gia trên. Việc này đồng nghĩa đối với các nước thành viên khối NATO nói trên đã vi phạm Điều 2 của Hiệp ước. Không loại trừ khả năng chính các quốc gia này sẽ nắm giữ vũ khí hạt nhân một cách gián tiếp hoặc trực tiếp, mặc dù các quốc gia đó đều phủ định điều này. NATO cũng không công nhận việc vi phạm Hiệp ước và tiếp tục khẳng định sự tuân thủ Hiệp ước của các nước thành viên .

Trong Hiệp ước cũng khẳng định quyền của các quốc gia thành viên “được tiếp tục thực hiện công tác nghiên cứu, sản xuất và sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình”. Cũng như việc trao đổi rộng rãi trên trường quốc tế thiết bị máy móc, nguyên liệu, các thông tin khoa học kỹ thuật về sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình. Hiệp ước cũng đề cập đến việc các nước có thành tựu phát triển cao ở lĩnh vực này sẽ chia sẻ hợp tác với các nước phi hạt nhân để phát triển năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình có tính đến đặc thù của từng khu vực. Thời gian gần đây, các nước trong khu vực Châu Á, Trung Đông, Mỹ Latinh ngày càng quan tâm hơn đến việc phát triển năng lượng hạt nhân. Điều đó làm tăng tính chất phức tạp của công tác không phổ biến vũ khí hạt nhân. Vấn đề nan giải ở đây là các quốc gia đang phát triển có thể là quốc gia tái xuất ra thế giới của những công nghệ tiên tiến nhạy cảm cho các nước thứ ba. Đặc biệt là, tồn tại nguy cơ các tổ chức phi chính phủ sẽ sở hữu các công nghệ tiên tiến đa tác dụng có khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân.

Ngoài ra, Hiệp ước còn ràng buộc các nước thành viên phải “tự nguyện tiến hành đàm phán để chấm dứt chạy đua vũ trang trong tương lai gần nhất và giải trừ vũ khí hạt nhân, cũng như ký kết Hiệp ước về giải trừ vũ khí toàn diện và triệt để đặt dưới sự kiểm soát quốc tế nghiêm ngặt và hiệu quả”.

5. Những khó khăn của việc thực hiện Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân

Trong Hội nghị tổng kết công tác thực thi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân giai đoạn năm 2016 đến năm 2020 có sự phức tạp và căng thẳng hơn rất nhiều.  

Nguyên do đại dịch Covid nên hội nghị được chuyển dịch qua năm 2021. Theo ý kiến chung của các nước thành viên hy vọng sẽ tạo ra khoảng thời gian để các nước thành viên đàm phán tìm được giải pháp nhượng bộ nhau ở các vấn đề căng thẳng. Nhưng những mâu thuẫn quốc tế cơ bản sâu sắc trong thực thi NTP sẽ khó có thể đưa đến kết quả tốt đẹp của hội nghị.

Nhóm các nước phản đối hạt nhân với sự ủng hộ rộng rãi của thế giới tiếp tục đưa ra hàng loạt các sáng kiến khác nhau nhằm loại bỏ vũ khí hạt nhân do không phù hợp với các tiêu chuẩn nhân đạo. Nếu như 5 cường quốc hạt nhân coi ý tưởng chính của NTP là không phổ biến vũ khí hạt nhân thì các nước thuộc phong trào không liên kết lại coi giải trừ toàn diện vũ khí hạt nhân mới là mục tiêu chính là một thế giới không vũ khí hạt nhân. Sự đối lập này càng sâu sắc hơn do xuất hiện trào lưu luận điểm quốc tế: bất kỳ quốc gia nào sở hữu vũ khí hạt nhân đều bị coi là tội ác chống lại nhân loại và tiến tới ký Hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân.

Trong khi đó, các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân cũng bị lên án vì những hành động phá vỡ nguyên tắc không phổ biến, mập mờ các khái niệm về biện pháp hạn chế và kiểm soát, che giấu các khái niệm phân biệt đối xử của hiệp ước. Các nước này cũng bị lên án do không có hành động thực tiễn về giải trừ vũ khí, cũng như không phối hợp trợ giúp tích cực các nước đang phát triển áp dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình.

Đồng thời, thành viên các nước không liên kết nhận thấy tình hình phức tạp hơn do hành động hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân của các cường quốc hạt nhân. Theo quan điểm của họ, chính sách này đang dần vi phạm NTP, đẩy một số quốc gia coi sở hữu vũ khí hạt nhân là công cụ chắc chắn đảm bảo an ninh quốc gia (ví dụ như CHDCND Triều Tiên). Điều này cũng làm cho các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng không tham gia Hiệp ước như Ấn Độ, Pakistan, Israel có lợi thế hơn so với các nước thành viên của Hiệp ước.

Vấn đề nan giải giữa các nước thành viên của Hiệp ước là việc thông qua Hiệp ước đảm bảo không sử dụng vũ khí hạt nhân chống các quốc gia phi hạt nhân (được gọi là đảm bảo an ninh thụ động). Các tuyên bố đơn phương của các cường quốc hạt nhân về đảm bảo “hạn chế” trong thời đại hiện nay được coi là không đáp ứng đủ. Nhận thấy việc giậm chân tại chỗ trong vấn đề này, các nước không liên kết tuyên bố ưu tiên hàng đầu là ký kết vô điều kiện một hiệp ước đảm bảo an ninh cho các quốc gia phi hạt nhân.

Vấn đề nan giải khác là việc tạo ra tại Trung Đông một khu vực không sử dụng vũ khí giết người hàng loạt. Nếu như không có chuyển biến tích cực nào ở lĩnh vực này sẽ dẫn đến đổ vỡ niềm tin vào Hiệp ước của hàng loạt các quốc gia Ả rập. Để thương thảo riêng chủ đề trên từ ngày 18-22/11/2019 tại thành phố New York, Mỹ đã diễn ra một hội nghị chuyên đề thông qua thông cáo chính trị về chủ đề nêu trên, đề ra tính cấp thiết soạn thảo Hiệp ước về khu vực không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt với sự tham gia của tất cả các nước trong khu vực nhưng Mỹ và Israel cùng phủ quyết hội nghị này. Điều đó chứng tỏ hai nước này không mong muốn có một hội nghị thành công, cũng như kéo dài vô thời hạn thời gian thành lập tại Trung Đông một khu vực không sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Tình hình càng trở nên tồi tệ bởi Mỹ đưa ra sáng kiến riêng trong vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân (“Tạo ra môi trường để giải trừ vũ khí hạt nhân”, “ Hợp tác quốc tế về theo dõi giải trừ vũ khí hạt nhân”...). Hiện tại chưa bàn tới tính hữu ích của các sáng kiến trên của Mỹ nhưng trước hết chúng thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế khỏi các hoạt động vi phạm của chính Mỹ trong vấn đề kiểm soát và phổ biến vũ khí hạt nhân. Đặc biệt, có thể kể ra một số việc tiêu biểu như: Mỹ đơn phương rời khỏi Hiệp ước thủ tiêu tên lửa tầm ngắn và tầm trung, Hiệp ước phòng thủ tên lửa, Thỏa thuận khung về chương trình hạt nhân của Iran, Hiệp ước về vũ trụ mở, từ chối phê chuẩn Hiệp ước cấm toàn diện các vụ thử hạt nhân cũng như đưa ra các yêu cầu phi lý để gia hạn Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược.

Luật Minh Khuê