Mục lục bài viết
1. Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh có các đặc điểm pháp lý sau:
1.1 Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân
Các phân tích ở trên cho thâỳ, hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập có bản châ't là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Nó khác vói .công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt vói chủ sở hữu của nó. Trong khi đó hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó. Mọi tài sản trong của hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo qui định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động của hộ kinh doanh.
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Hộ kinh doanh được tạo lập bởi một nhóm người cũng không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên có vân đề rắc rôì cần lưu ý rằng: Người đứng ra đăng ký kinh doanh có được xem là người đại diện đương nhiên cho nhóm tạo lập ra hộ kinh doanh hay không, hay chỉ là người đại diện cho nhóm để đăng ký kinh doanh? Câu trả lời có ý nghĩa quan trọng đôì với chê' độ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của hộ kinh doanh, vân đề tư cách tham gia tô' tụng và vân đề quản trị hộ kinh doanh. Câu trả lời phụ thuộc phần nào vào việc giải thích các qui định về thành lập và đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh mà sẽ đưỢc nói tói trong một chừng mực nhâ't định dưới đây.
1.2 Hộ kinh doanh là hình thức kỉnh doanh qui mô rất nhỏ
Đặc điểm này không xuâ't phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh này mà xuất phát từ các qui định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh. Điều này gây tốn kém không thật cần thiết cho người kinh doanh, và có thể trái với ý chí và khả năng kinh doanh của họ. Việc buộc hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp có lẽ chưa tính đêh đạc trưng của từng ngành nghề kinh doanh. Với một cửa hàng cơm bình dân con sô' người phục vụ có thể lên tới hàng chục với các công việc như nâù ăn, chạy chợ, phục vụ bàn, vệ sinh, trông xe...
1.3 Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt vói chủ nhân của nó. Nên về nguyên tắc chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đôì vói khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh. Tuy nhiên theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện nay về trách nhiệm của chủ hộ kinh doanh đô'i với các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh của hộ kinh doanh thì còn râ't nhiều vân đề phải bàn. Các qui định này quả thật râ't khó xác định chế độ trách nhiệm của chủ hộ kinh doanh bởi cách viết. Theo định nghĩa này, người ta có thể hiểu có năm yếu tô' để xác định hộ kinh doanh như sau:
(1) Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ;
(2) hộ kinh doanh chỉ được kinh doanh tại một địa điểm;
(3) hộ kinh doanh sử dụng không quá mười lao động;
(4) hộ gia đình không có con dâù;
(5) hộ kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh . Về nguyên lý pháp lý khi kinh doanh, thương nhân dù là thể nhân hay pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đôi với các khoản nợ của mình. Chẳng hạn một công ty dù là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh đều phải bỏ toàn bộ tài sản của mình ra để trả nợ. Khi nói tới chê'độ trách nhiệm vô hạn, có nghĩa là nói tới việc các thành viên của công ty phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân của mình đối với các khoản nợ của công ty mà mình làm thành viên. Vì vậy định nghĩa về hộ kinh doanh của Nghị định sô' 43/2010 NĐ-CP làm phát sinh nhiều vân đề phải bàn về chế độ trách nhiệm. Cần lưu ý rằng việc bàn luận này phải gắn chặt vói việc phân tích bản chất của hộ kinh doanh.
Nêu hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, thì người ta có thê’ qui kết ngay rằng cá nhân làm chủ đó phải chịu trách nhiệm vô hạn đối vói các khoản nợ của hộ kinh doanh ngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra để trả nợ, bởi trong trường hợp này hộ kinh doanh có bản châ't là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thê’ nhân. Nêù hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ thì vâh đề có lẽ trở nên phức tạp hon nhiều, bởi chế độ trách nhiệm của thành viên trong nhóm không được pháp luật qui định cụ thê’ mà phụ thuộc vào sự giải thích. Nêù xem hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ là một công ty họp danh không có tư cách pháp nhân như trên đã nói thì các thành viên trong nhóm phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh. Qui định này cần phải giải thích là hộ kinh doanh có chế độ trách nhiệm vô hạn, và chê'độ này ứng với các thành viên của nhóm.
2. Quản trị hộ kinh doanh
Có lẽ nhiều người sẽ cảm thâỳ kỳ lạ khi pháp luật điều tiết vâh đê' quản trị hộ kinh doanh. Cảm giác đó không tránh khỏi một khi cứ nghĩ hộ kinh doanh là cá nhân kinh doanh?. Như trên đã phân tích hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay không chỉ là cá nhân kinh doanh, mà còn là hộ gia’đình kinh doanh hoặc một nhóm người cùng nhau kinh doanh. Hộ gia đình kinh doanh đã được Bộ luật Dân sự 2015 qui định rõ ràng về chế độ quản trị. Còn theo lẽ thường, một nhóm người cùng nhau góp vôh kinh doanh luôn luôn đòi hỏi một chế độ quản trị. Thế nhưng pháp luật Việt Nam hiện nay bỏ ngỏ câu chuyện này.
Bộ luật Dân sự 2015 có những qui định rất không hợp lý vể chế độ quản trị hộ gia đình. Sự bâ't hợp lý này có lẽ xuâ't phát từ sự xung đột giữa tư tưởng gia trưởng ỵà tư tưởng sản nghiệp cá nhân của các thành viên trong gia đình. Một mặt đạo luật này thừa nhận thành viên của hộ gia đình có tài sản riêng và có tài sản chung cùng với các thành viên khác, và ân định rằng các thành viên của hộ gia đình phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định với các khoản nợ của hộ gia đình. Nhưng mặt khác lại cho chủ hộ đại diện duy nhâ't cho hộ gia đình trong các giao dịch vì lợi ích chung của hộ, có nghĩa là hành vi của chủ hộ mang lại quyền và nghĩa vụ cho hộ gia đình. Ớ đây có sự mâu thuẫn lớn giữa chế độ quản trị và chê' độ trách nhiệm. Hành vi của chủ hộ có thể dẫn tới việc làm sụp đổ toàn bộ hộ gia đình. Tài sản riêng của các thành viên hộ gia đình có thê’ bị tiêu tán. V1 vậy việc đổ dổn quyền đại diện cho chủ hộ là bâ't hợp lý và làm khơi dậy chê'độ gia trưởng.
Các chế độ quản trị liên quan tới hộ gia đình và liên quan tới nhóm người kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh vừa nói thiếu công bằng bởi không góp phần bảo đảm quyền lợi của từng thành viên và không xem các thành viên có vị thếbình đẳng.
3. Vận hành hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh được tiến hành kinh doanh ngay sau khi được cap Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh và tại địa điểm kinh doanh xác định khi đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, hộ buôn chuyến, kinh doanh lưu động phải thông báo với nhà chức trách thuế và quản lý thị trường. Trong quá trình kinh doanh, hộ kinh doanh có thê’ thay đổi nội dung kinh doanh hoặc ngừng kinh doanh quá ba mươi ngày nhưng phải thông báo cho nhà chức trách có thẩm quyền biết. Tuy nhiên hộ kinh doanh không được ngừng kinh doanh quá một năm.
Hộ kinh doanh hoạt động dưới tên riêng được đặt theo qui tắc bao gổm hai thành tố: Một thành tô' chỉ loại hình kinh doanh; và thành tố khác chỉ danh tính. Pháp luật chỉ yêu cầu trong thành tố thứ nhâ't cần ghi rõ: "hộ kinh doanh". Tuy nhiên mục đích của yêu cầu này khó đạt được đầy đủ vì trong hộ kinh doanh có tới ba loại như phân tích ở trên. Và chế độ trách nhiệm của hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ chưa được xác định rõ ràng.
Việc sử dụng, định đoạt tài sản của hộ kinh doanh được thành lập bởi hộ gia đình cần có sự bàn bạc trong các thành viên của hộ gia đình. Các tài sản có giá trị lớn hoặc tư liệu sản xuâ't được định đoạt theo nguyên tắc nhất trí, ngoài ra phải được sự ủng hộ của đa số. Các thành viên đủ mười lăm tuổi trở lên có quyền bàn bạc và biểu quyết. Tuy nhiên quá trình sử dụng và định đoạt hầu như phụ thuộc vào ý chí của chủ hộ.
Trong hoạt động quản trị và vận hành có một điều râ't quan trọng cần phải ghi nhớ là nêu luôn luôn muốn kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh thì phải vận hành hộ kinh doanh làm sao để không sử dụng mười lao động thường xuyên trở lên, bởi việc sử dụng- mười lao động thường xuyên khiến hộ kinh doanh phải đăng ký dưới hình thức doanh nghiệp. Nhiều khi chủ hộ kinh doanh không muôn mâ't chi phí, bỏ lỡ cơ hội, thay đổi thói quen kinh doanh..., nên tính chất "thường xuyên" sử dụng trên mười lao động có thể tránh được bằng các cách lách luật khác nhau trong việc ký kết họp đổng lao động và sử dụng lao động. Nên chăng pháp luật nhìn nhận vân đề từ phía người lao động và lợi ích của chủ hộ kinh doanh?
4. Chấm dứt hộ kinh doanh
Việc châm dứt hộ kinh doanh cũng phải được xem xét từ bản chất pháp lý của hộ kinh doanh. Nêù hộ kinh doanh là cá nhân kinh doanh, thì khi cá nhân thành lập hộ kinh doanh chết, hộ kinh doanh đương nhiên châm dứt sự tổn tại. Nhưng nêù hộ kinh doanh không phải do một cá nhân làm chủ thì chắc hẳn nguyên lý trên khó có thể được áp dụng, bởi hộ kinh doanh không hoàn toàn thuộc sản nghiệp của một cá nhân.
Hộ kinh doanh có thể châm dứt bởi ý chí của các chủ nhân của nó, có nghĩa là cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm người có thể châm dứt hộ kinh doanh theo ý muôh của mình. Tuy nhiên vân đề mà pháp luật còn bỏ ngỏ là đôì với hộ kinh doanh được tạo lập nên bởi một nhóm người thì việc châm dứt phải theo nguyên tắc nhâ't trí hay nguyên tắc đa số, hay theo nguyên tắc phụ thuộc vào ý chí của người đại diện nhóm đứng tên đăng ký kinh doanh. Cần phải hiểu việc cùng nhau đóng góp vôh tạo lập ra một tổ chức kinh doanh về nguyên tắc những người cùng nhau góp vôh bình đẳng với nhau, nhâ't là tổ chức kinh doanh đó không có tư cách pháp nhân. Đôì với hộ kinh doanh được thành lập bởi một hộ gia đình thì vâh đề có thể được giải quyết thông qua các qui định của Bộ luật Dân sự 2005 rằng: "Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuâ't, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đôi với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đổng ý" (Điều 109, khoản 2).
Hộ kinh doanh cũng có thể bị châm dứt bởi pháp luật hay nói cách khác bởi hiệu lực của luật. Hiện nay pháp luật Việt Nam dự liệu một số trường họp có thể dẫn tới việc châm dứt hộ kinh doanh thông qua con đường thu hồi Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh. Các trường họp dẫn tới việc thu hổi Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh bao gồm: (1) Không tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời hạn sáu tháng kê’ từ ngày được câp Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh; (2) ngừng hoạt động kinh doanh hon sáu tháng liên tục mà không thông báo vói cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền; (3) chuyển địa điểm kinh doanh sang quận, huyện khác; và (3) kinh doanh các ngành, nghề bị câm. Như vậy có thể hiểu hộ kinh doanh chỉ còn cách chấm dứt và thành lập lại nếu muôn ngừng kinh doanh quá một năm. Việc ép uổng kinh doanh như vậy gây khó khăn cho những người dân có ít vôh, trình độ kinh doanh tháp chỉ với những toan tính sinh hoạt hàng ngày, tuy nhiên tạo sự dễ dàng cho việc quản lý nhà nước.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê