1. Hiểu như thế nào về hoạt động môi giới chứng khoán?
Môi giới chứng khoán được định nghĩa tại Luật Chứng khoán 2019 như sau: Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.
Theo đó, môi giới chứng khoán được hiểu là việc trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Nhà môi giới chứng khoán theo quy định hiện nay có thể là cá nhân hoặc là tổ chức đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định. Theo đó, các cá nhân, tổ chức này sẽ trung gian thực hiện việc mua, bán chứng khoán cho khách hàng.
Đầu tư chứng khoán là kênh đầu tư mang đến nhiều lợi nhuận thậm chí là lợi nhuận nhanh chóng cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, bên cạnh sự hấp dẫn về mức thu nhập, việc đầu tư chứng khoán cũng tồn tại rất nhiều rủi ro. Chứng khoán và thị trường chứng khoán hiện nay vẫn còn là những khái niệm khá trìu tượng, sự vận hành của thị trường chứng khoán liên quan nhiều đến các quy luật thị trường cũng như các vấn đề về cung - cầu. Và trên thực tế, các vấn đề này là các vấn đề rất phức tạp và không phải nhà đầu tư nào cũng có được những hiểu biết liên quan đến vấn đề này, vì vậy việc đầu tư chứng khoán để giúp hạn chế được những rủi ro, những nhà đầu tư thường tìm đến một bên trung gian, có thể là một cá nhân, một công ty, một tổ chức để thực hiện việc mua, bán chứng khoán. Việc xuất hiện của bên mô giới giúp nhà đầu tư hiểu và có thể nắm bắt được các xu hướng của thị trường chứng khóa để có thể mua được chứng khoán tiền năng và mang lại cho nhà đầu tư nhiều lợi nhuận hơn.
Hoạt động môi giới chứng khoán được thực hiện thông qua hợp đồng mô giới. Hợp đồng môi giới chứng khoán là hợp đồng giữa bên môi giới và khách hàng, đây là cơ sở phát lý cho hoạt động môi giới chứng khoán của bên môi giới chứng khoán. Theo đó, hợp đồng môi giới chứng khoán bao gồm nhiều nội dung do bên môi giới và khách hàng thỏa thuận, tuy nhiên những thỏa thuận này không được phép vi phạm điều cấm của luật, không được trái quy định pháp luật, và không được trái đạp đức.
Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động có vai trò quan trọng đối với một số nhà đầu tư, đây là hoạt động đóng vai trò kết nối nhà đầu tư, từ đó phần phát triển thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nhìn chung, trong thị trường chứng khoán, người mua và người bán muốn kinh doanh phải có cơ hội gặp gỡ và đi đến hoạt động đầu tư mua bán thì người mua cần có sự đánh giá đúng chất lượng hàng hóa và giá cả. Tuy nhiên, đối với chứng khoán, việc kinh doanh liên quan đến tài sản vô hình nên giao dịch chứng khoán khác với giao dịch trên các thị trường khác ở chỗ xác định nhu cầu của người mua và người bán về khối lượng chứng khoán, chất lượng, giá cả, điều kiện mua bán, tìm kiếm và trao đổi chứng khoán, hoàn thiện giao dịch, thanh toán và chuyển nhượng chứng khoán với chi phí thấp. Vì vậy, để tìm được người mua bán và đánh giá chất lượng hàng hóa, cần phải bỏ ra số tiền rất lớn cho việc thu thập và xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và giao dịch trên thị trường.
Xuất phát từ thực tế trên, những người có khả năng phân tích, thị trường đánh giá thị trường chứng khoán có khả năng làm trung gian, kết nối người bán và người mua ra đời, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, hoạt động trung gian, kết nối người bán với người mua của những người này càng trở nên phổ biến và mang lại nhiều lợi ích cho cả người bán và người mua, do đó hoạt động trung gian này trở thành một hoạt động qua trọng trên thị trường chứng khoán và được pháp luật ghi nhận với thuật ngữ môi giới chứng khoán.
2. Các quy định của pháp luật liên quan đến môi giới chứng khoán
Để có thể hoạt động môi giới chứng khoán, các cá nhân cần đáp ứng một số điều kiện và có các trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Về các quy định liên quan đến chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán được quy định tại khoản 1 Điều 14 Thông tư 197/2015/TT-BTC ngày 03 tháng 12 năm 2015 Thông tư Quy định về hành nghề chứng khoán, theo đó, người có Chứng chỉ hành nghề Môi giới chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
Như vậy, theo quy định về nguyên tắc hành nghề chứng khoán thì người có chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Ngoài ra theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư 197/2015/TT-BTC "chứng chỉ hành nghề chứng khoán chỉ có giá trị sử dụng khi người được cấp chứng chỉ làm việc tại một công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán và được công ty đó thông báo với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Chứng chỉ hành nghề chứng khoán được cấp không thời hạn, trừ trường hợp bị thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư này."
Từ đây có thể thấy, chứng chỉ hành nghề chứng khoán theo quy định của pháp luật chỉ được phép sử dụng khi người được cấp chứng chỉ làm việc tại một công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán và được công ty đó thông báo với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Về thời hạn đối với chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán, pháp luật có quy định, chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán không có thời hạn, tuy nhiên, chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán có thể bị thu hồi khi:
- Không còn đáp ứng được điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán quy định tại điểm a khoản 1 Điều 79 của Luật Chứng khoán 2019
- Vi phạm các quy định tại Điều 9, khoản 1 và khoản 3 Điều 81 của Luật Chứng khoán 2019
- Không hành nghề chứng khoán trong ba năm liên tục.
Ngoài ra, pháp luật cũng có quy định, vòng năm (05) ngày kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề chứng khoán của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, người được cấp chứng chỉ phải nộp lại chứng chỉ hành nghề chứng khoán cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
3. Trách nhiệm của người môi giới chứng khoán
Về trách nhiệm của người hành nghề môi giới chứng khoán. Tại Điều 15 Thông tư 197/2015/TT-BTC có quy định trách nhiệm của người hành nghề chứng khoán, từ đây có thể nói, người hành nghề môi giới chứng khoán có trách nhiệm sau:
+ Trừ trường hợp được cử là người đại diện phần vốn góp hoặc làm thành viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, ban kiểm soát của một tổ chức mà tổ chức đó sở hữu tổ chức kinh doanh chứng khoán hoặc tiếp nhận vốn đầu tư từ tổ chức kinh doanh chứng khoán, người hành nghề chứng khoán không được: Đồng thời làm việc cho tổ chức khác có quan hệ sở hữu với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nơi mình đang làm việc; Đồng thời làm việc cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ khác; Đồng thời làm giám đốc (tổng giám đốc) của một tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng hoặc tổ chức niêm yết.
+ Người hành nghề môi giới chứng khoán đang làm việc cho công ty chứng khoán chỉ được mở tài khoản giao dịch chứng khoán cho mình tại chính công ty chứng khoán nơi mình làm việc, trừ trường hợp công ty chứng khoán đó không phải là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán.
+ Người hành nghề môi giới chứng khoán không được sử dụng tiền, chứng khoán trên tài khoản của khách hàng khi không được công ty chứng khoán ủy quyền theo sự ủy thác của khách hàng cho công ty chứng khoán bằng văn bản.
+ Theo quy định của pháp luật, người hành nghề chứng khoán phải tuân thủ các quy tắc đạo đức hành nghề chứng khoán.
+ Từ quy định tại khoản 5 Điều 15 Thông tư 197/2015/TT-BTC có thể nói, người hành nghề môi giới chứng khoán có trách nhiệm tham gia các khóa tập huấn về pháp luật, hệ thống giao dịch, loại chứng khoán mới do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán tổ chức.
+ Pháp luật có quy định người hành nghề môi giới chứng khoán phải thông báo với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sau khi chứng chỉ hành nghề chứng khoán bị mất, phát hiện bị mất hoặc thay đổi các thông tin xác nhận nhân thân trong chứng chỉ hành nghề chứng khoán (theo mẫu quy định tại Phụ lục số V Thông tư 197/2015/TT-BTC)
Trên đây là một số vấn đề có liên quan đến hoạt động môi giới chứng khoán theo quy định hiện nay. Để có thể hiểu rõ hơn về nội dung pháp lý có liên quan, tham khảo:
- Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán mới nhất
- Hoạt động môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán
Mọi thắc mắc liên hệ Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Miễn Phí Online 24/24: 19006162 để được giải đáp chi tiết. Trân trọng!