1. Được mua vàng miếng tại những địa điểm nào?

Theo Điều 10 của Nghị định 24/2012/NĐ-CP, quy định về hoạt động mua, bán vàng miếng, các tổ chức và cá nhân chỉ được thực hiện giao dịch tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng. Điều này nhằm đảm bảo tính an toàn và quản lý chặt chẽ trong thị trường vàng miếng, đồng thời giúp ngăn ngừa các hoạt động giao dịch vàng không đáng tin cậy. Việc áp dụng các quy định này có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và tin cậy của thị trường vàng miếng, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng và các bên tham gia giao dịch.

 

2. Quy định mới nhất về hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước từ 27/11/2023

Theo Thông tư 12/2023/TT-NHNN (thông tư này có hiệu lực từ ngày 27/11/2023) vừa được sửa đổi và bổ sung, một số điểm và quy định trong Thông tư 06/2013/TT-NHNN liên quan đến hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã được điều chỉnh như sau:
(1) Sửa đổi Điều 14 của Thông tư 06/2013/TT-NHNN liên quan đến việc thông báo kết quả giao dịch mua, bán vàng miếng cho từng tổ chức tín dụng và doanh nghiệp:
Theo đó, Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước sẽ thông báo bằng văn bản cho Vụ Quản lý ngoại hối, Vụ Tài chính - Kế toán, Sở Giao dịch, và Cục Phát hành và Kho quỹ về kết quả giao dịch mua, bán vàng miếng với từng tổ chức tín dụng và doanh nghiệp sau khi ký xác nhận giao dịch.
(2) Điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 của Điều 15 trong Thông tư 06/2013/TT-NHNN về thời hạn thanh toán tiền và thời hạn giao, nhận vàng miếng đã được điều chỉnh như sau:
- Điểm b khoản 1 Điều 15 được điều chỉnh và bổ sung như sau:
Vào cuối ngày ký xác nhận giao dịch và cuối ngày làm việc liền kề tiếp theo ngày ký xác nhận giao dịch, Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước sẽ lập danh sách các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đã thanh toán đầy đủ tiền mua vàng miếng trong ngày và thông báo bằng văn bản cho Vụ Tài chính - Kế toán, Cục Phát hành và Kho quỹ để thực hiện thủ tục giao vàng miếng cho tổ chức tín dụng và doanh nghiệp theo quy định tại điểm c khoản 1 của Điều 15 trong Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
- Điểm b khoản 2 Điều 15 được điều chỉnh và bổ sung như sau:
Ngay sau khi kết thúc việc giao, nhận vàng miếng, Cục Phát hành và Kho quỹ sẽ thông báo bằng văn bản cho Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và Sở Giao dịch để thực hiện thanh toán tiền cho tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.
(3) Sửa đổi, bổ sung Điều 20 Thông tư 06/2013/TT-NHNN về trách nhiệm của Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước:
- Làm đầu mối phối hợp với Vụ Quản lý ngoại hối trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định tạm ngừng giao dịch, hủy quan hệ mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp theo quy định tại Điều 5 Thông tư 06/2013/TT-NHNN;
Thông báo cho tổ chức tín dụng, doanh nghiệp quyết định của Ngân hàng Nhà nước về việc tạm ngừng giao dịch, hủy quan hệ giao dịch mua, bán vàng miếng.
- Đầu mối, phối hợp với Sở Giao dịch thực hiện nghiệp vụ thanh toán mua, bán vàng miếng.
- Thông báo bằng văn bản cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp về việc không hoàn trả tiền đặt cọc.
- Thông báo và cập nhật cho Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Vụ Quản lý ngoại hối về danh sách tổ chức tín dụng, doanh nghiệp thiết lập quan hệ giao dịch mua, bán vàng miếng với Ngân hàng Nhà nước.
- Phối hợp với Vụ Quản lý Ngoại hối và Vụ Chính sách tiền tệ xây dựng phương án mua, bán vàng miếng của Ngân hàng Nhà nước.
- Phối hợp với Vụ Quản lý Ngoại hối xác định giá mua, giá bán vàng miếng (đối với trường hợp mua bán trực tiếp và đấu thầu theo khối lượng), giá sàn, giá trần (đối với trường hợp đấu thầu theo giá) theo phương án mua bán đã được phê duyệt.
- Thông báo bằng văn bản cho Sở Giao dịch về việc tổ chức tín dụng, doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 13 Thông tư 06/2013/TT-NHNN để làm căn cứ xử lý tiền đặt cọc theo quy định tại Điều 16 Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
- Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định tại Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
(4) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 23 Thông tư 06/2013/TT-NHNN về trách nhiệm của Cục Phát hành và Kho quỹ như sau:
Thông báo bằng văn bản cho Sở Giao dịch và Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước về việc tổ chức tín dụng, doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ giao vàng miếng để làm căn cứ xử lý tiền đặt cọc theo quy định tại Điều 16 Thông tư 06/2013/TT-NHNN và để làm căn cứ xem xét tạm ngừng giao dịch theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
(5) Sửa đổi, bổ sung Điều 25 Thông tư 06/2013/TT-NHNN về trách nhiệm của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng như sau:
- Thông báo bằng văn bản cho Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước thông tin quy định tại điểm d khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
- Trên cơ sở đề nghị của Ban kiểm soát đặc biệt tại tổ chức tín dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư 06/2013/TT-NHNN làm đầu mối trình Thống đốc cho phép, chấm dứt cho phép tổ chức tín dụng bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt giao dịch mua, bán vàng miếng với Ngân hàng Nhà nước;
Thông báo cho tổ chức tín dụng quyết định của Ngân hàng Nhà nước về cho phép, chấm dứt cho phép giao dịch mua, bán vàng miếng, đồng gửi cho Ban kiểm soát đặc biệt tại tổ chức tín dụng, Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và Sở giao dịch.
- Thực hiện hoạt động thanh tra, giám sát hoạt động mua bán vàng miếng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp với Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật.
(6) Bổ sung Điều 25a vào Thông tư 06/2013/TT-NHNN về trách nhiệm của Sở Giao dịch như sau:
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán mua, bán vàng miếng trên cơ sở các thông báo của Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo các quy định tại Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
Ngoài ra, tại Điều 2 Thông tư 12/2023/TT-NHNN thay thế một số cụm từ tại Thông tư 06/2013/TT-NHNN như sau:
- Thay thế cụm từ "Sở Giao dịch" bằng cụm từ "Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước" tại Điều 3, khoản 4 Điều 4, khoản 1 và khoản 3 Điều 11, khoản 1 và 2 Điều 12, khoản 6 Điều 19, khoản 2 và khoản 3 Điều 21, Điều 22, Phụ lục 1, 2, 3 ban hành kèm theo Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
- Thay thế cụm từ "Giám đốc Sở Giao dịch" bằng cụm từ "Cục trưởng Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước" tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư 06/2013/TT-NHNN.
 

3. Nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh vàng

Theo Điều 4 của Nghị định 24/2012/NĐ-CP, các nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh vàng được xác định như sau:
- Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức và cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật. Điều này đảm bảo tính hợp pháp và quyền lợi của những người sở hữu vàng.
- Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo quy định tại Nghị định 24/2012/NĐ-CP. Điều này giúp đảm bảo tính thống nhất và quản lý hiệu quả của hoạt động kinh doanh vàng trên toàn quốc.
- Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Điều này đặt ra sự kiểm soát chặt chẽ về nguồn gốc và chất lượng của vàng sản xuất và xuất khẩu.
- Quản lý hoạt động kinh doanh vàng nhằm phát triển ổn định và bền vững thị trường vàng, đồng thời bảo đảm hoạt động sản xuất và gia công vàng trang sức, mỹ nghệ phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu theo quy định của pháp luật. Điều này đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững của ngành công nghiệp vàng.
- Tổ chức và cá nhân hoạt động kinh doanh vàng phải tuân thủ các quy định của Nghị định 24/2012/NĐ-CP và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Điều này đảm bảo tính tuân thủ và tuân thủ của tất cả các bên tham gia.
- Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện và phải được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Điều này đảm bảo tính kiểm soát và đảm bảo chất lượng trong hoạt động này.
- Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện không cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Điều này tạo ra sự minh bạch về quyền lợi của những người tham gia vào hoạt động này.
- Hoạt động phái sinh về vàng của các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện theo Điều 105 của Luật Các tổ chức tín dụng. Điều này đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong hoạt động phái sinh.
- Các hoạt động kinh doanh vàng khác, trừ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng, hoạt động mua, bán vàng nguyên liệu trong nước của doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ và doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và các hoạt động quy định tại khoản 6, 7, 8 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, là hoạt động kinh doanh thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh. Điều này đảm bảo tính hạn chế và kiểm soát trong các hoạt động đặc biệt này.
- Tổ chức và cá nhân chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép. Điều này đảm bảo tính kiểm soát và quản lý chặt chẽ trong những hoạt động mới, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng và các bên tham gia vào hoạt động kinh doanh vàng.

Xem thêm bài viết: Điều kiện để thành lập doanh nghiệp hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng?

Khi có thắc mắc về pháp luật, liên hệ ngay đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn