1. Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) là gì?

SEV hay hãy vẫn được hiểu là Hội đồng Tương trợ Kinh tế, có tên tiếng Nga là: Совет экономической взаимопомощи Sovyet Ekonomičeskoy Vzaimopomošči, ngoài ra tổ chức này còn được gọi là tổ chức hợp tác kinh tế của những quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn từ năm 1949–1991.

Tổ chức bắt đầu được thành lập vào năm 1949 bởi 6 nước thành viên chủ chốt là Liên Xô, Tiệp Khắc, Bulgaria, Ba Lan, Hungary và Romania. Với những mong muốn chính trong sự hình thành của tổ chức Comecon chính là hợp tác cùng phát triển và củng cố vững chắc mối liên kết xã hội chủ nghĩa quốc tế của Joseph Stalin ở lĩnh vực kinh tế với những quốc gia yếu hơn tại khu vực Trung Âu và hiện tại đang có nguy cơ ngày càng bị cô lập khỏi thị trường truyền thống của họ và những nhà cung cấp ở phần còn lại tại khu vực châu Âu.

2. Quá trình hình thành SEV

Sau năm 1945, hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển dẫn đầu là Liên Xô (nước Nga ngày nay). Từ đó giữa các nước cùng chế độ xuất hiện và phát triển quan hệ hợp tác tương trợ. Và để hỗ trợ sự phát triển của các mối quan hệ hợp tác này Hội đồng tương trợ kinh tế được thành lập ngày 8/1/1949 bởi các nước xã hội chủ nghĩa phát triển bấy giờ là Liên xô, Bulgaria, Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan và Romania.

Mục tiêu của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) mong muốn hợp tác và củng cố mối quan hệ xã hội chủ nghĩa quốc tế của Joseph Stalin ở cấp độ kinh tế với các quốc gia kém hơn Trung Âu và hiện đang ngày càng không bắt kịp với thị trường truyền thống và nhà cung cấp ở phần còn lại của Châu Âu. Với những mong muốn chính trong sự hình thành của tổ chức Comecon chính là hợp tác cùng phát triển và củng cố vững chắc mối liên kết xã hội chủ nghĩa quốc tế của Joseph Stalin ở lĩnh vực kinh tế với những quốc gia yếu hơn tại khu vực Trung Âu và hiện tại đang có nguy cơ ngày càng bị cô lập khỏi thị trường truyền thống của họ và những nhà cung cấp ở phần còn lại tại khu vực châu Âu

– Đến năm 1950 Hội đồng tương trợ kinh tế kết nạp thêm Cộng hòa dân chủ Đức và tiếp những năm sau đó các nước thành viên tiếp tục được tăng lên với sự gia nhập lần lượt của Mông Cổ, Cuba và cuối cùng là Việt Nam. Ba thành viên cuối là ba nước kém phát triển nhất trong khối thời bấy giờ và sự gia nhập của các nước này đã làm tăng gánh nặng cho 6 nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu (Ba Lan, Bulgaria, Hungary, Tiệp Khắc, Romania và Đông Đức). Tuy nhiên so với 03 nước đó thì Mông Cổ phát triển hơn chút, khi trước đó đã được Liên Xô trợ đều đều và không làm tăng gánh nặng nhiều cho khối SEV. Vì thế thực tế, Cuba và Việt Nam mới mang đến gánh nặng nhanh chóng leo thang.

Vào đầu những năm 1950, những quốc gia trong Hội đồng tương trợ kinh tế đã áp dụng các chính sách tự trị. Năm 1960 thì phát sinh thêm 10 ủy ban thường trực nhằm hỗ trợ cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp giữa các quốc gia trong hội đồng.

Hội đồng tương trợ kinh tế phát triển qua hai thời đại đó là thời đại Khrushchev và thời đại Thời đại Brezhnev.-

- Thời đại Khrushchev

Sau cái chết của Stalin năm 1953, Comecon lại bắt đầu tìm thấy chỗ đứng của mình. Đầu những năm 1950, tất cả các quốc gia Comecon đã áp dụng các chính sách tương đối tự trị; bây giờ họ lại bắt đầu thảo luận về việc phát triển các chuyên ngành bổ sung, và vào năm 1956, 10 ủy ban thường trực đã phát sinh, nhằm tạo điều kiện cho sự phối hợp trong những vấn đề này. Liên Xô bắt đầu đánh đổi hàng hóa sản xuất của Comecon. Đã có nhiều cuộc thảo luận về việc điều phối kế hoạch 5 năm. Tuy nhiên, 1 lần nữa, rắc rối nảy sinh. Các cuộc biểu tình của Ba Lan và cuộc nổi dậy của Hungary đã dẫn đến những thay đổi lớn về kinh tế và xã hội, bao gồm việc từ bỏ năm 1957 trong kế hoạch 5 năm của Liên Xô 1956, khi chính phủ Comecon đấu tranh để thiết lập lại tính hợp pháp và hỗ trợ phổ biến của họ. Vài năm tiếp theo chứng kiến 1 loạt các bước nhỏ hướng tới hội nhập kinh tế và thương mại gia tăng, bao gồm cả việc giới thiệu "đồng rúp chuyển đổi", sửa đổi các nỗ lực chuyên môn hóa quốc gia, và 1 điều lệ năm 1959 được mô phỏng theo Hiệp ước Rome năm 1957. Tuy nhiên, 1 lần nữa, những nỗ lực trong kế hoạch trung tâm xuyên quốc gia đã thất bại. Vào tháng 12/1961, 1 phiên họp của hội đồng đã phê chuẩn các Nguyên tắc cơ bản của Phòng Lao động Xã hội Chủ nghĩa Quốc tế, trong đó nói về sự phối hợp chặt chẽ hơn của các kế hoạch và "tập trung sản xuất các sản phẩm tương tự ở một hoặc một số nước xã hội chủ nghĩa". Vào tháng 11/1962, Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev đã tiếp nối điều này với lời kêu gọi "một cơ quan lập kế hoạch chung." Điều này đã bị Tiệp Khắc, Hungary và Ba Lan phản đối, nhưng mạnh mẽ nhất là Rumani ngày càng mang tính dân tộc. rằng họ nên chuyên về nông nghiệp. Trung và Đông Âu, chỉ có Bulgaria vui vẻ đảm nhận vai trò được giao (cũng là nông nghiệp, nhưng trong trường hợp của Bulgaria, đây là hướng đi được chọn của đất nước ngay cả khi là 1 quốc gia độc lập trong những năm 1930). Về cơ bản, vào thời điểm Liên Xô đang kêu gọi hội nhập kinh tế chặt chẽ, họ không còn quyền áp đặt nó nữa. Mặc dù có sự hội nhập chậm chạp trong gia tăng, dầu mỏ, điện và các lĩnh vực khoa học / kỹ thuật khác và năm 1963 thành lập Ngân hàng Hợp tác Kinh tế Quốc tế, các nước Comecon đều tăng giao dịch với phương Tây tương đối nhiều hơn so với nhau

-Thời kỳ của Brezhnev

Từ khi thành lập đến năm 1967, Comecon chỉ hoạt động trên cơ sở các thỏa thuận nhất trí. Ngày càng rõ ràng rằng kết quả thường là thất bại. Năm 1967, Comecon đã thông qua "nguyên tắc của bên quan tâm", theo đó bất kỳ quốc gia nào cũng có thể từ chối bất kỳ dự án nào họ chọn, vẫn cho phép các quốc gia thành viên khác sử dụng các cơ chế của Comecon để điều phối các hoạt động của họ. Về nguyên tắc, 1 quốc gia vẫn có thể phủ quyết, nhưng hy vọng là họ thường chọn chỉ bước sang 1 bên thay vì phủ quyết hoặc là người tham gia bất đắc dĩ. Điều này nhằm mục đích, ít nhất là 1 phần, trong việc cho phép Romania lập biểu đồ kinh tế của riêng mình mà không để Comecon hoàn toàn hoặc đưa nó vào tình trạng bế tắc. Cũng cho đến cuối những năm 1960, thuật ngữ chính thức cho các hoạt động của Comecon là hợp tác. Thuật ngữ hội nhập luôn luôn bị tránh vì ý nghĩa của sự thông đồng tư bản độc quyền. Tuy nhiên, sau phiên họp của hội đồng "đặc biệt" tháng 4/1969 và sự phát triển và thông qua (1971) của Chương trình toàn diện để mở rộng và cải thiện hợp tác và phát triển hơn nữa về hội nhập kinh tế xã hội chủ nghĩa của các nước thành viên Comecon, các hoạt động của Comecon đã chính thức gọi là hội nhập (cân bằng "sự khác biệt về sự khan hiếm tương đối của hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia thông qua việc loại bỏ một cách có chủ ý các rào cản đối với thương mại và các hình thức tương tác khác"). Mặc dù sự cân bằng như vậy không phải là điểm then chốt trong việc hình thành và thực thi các chính sách kinh tế của Comecon, hội nhập kinh tế được cải thiện luôn là mục tiêu của Comecon. Mặc dù hội nhập như vậy vẫn là một mục tiêu, và trong khi Bulgaria ngày càng hội nhập chặt chẽ hơn với Liên Xô, thì tiến bộ theo hướng này lại liên tục bị thất vọng bởi kế hoạch trung tâm quốc gia phổ biến ở tất cả các nước Comecon, bởi sự đa dạng ngày càng tăng của các thành viên (vào thời điểm này bao gồm Mông Cổ và sẽ sớm bao gồm Cuba) và bởi "sự bất cân xứng áp đảo" và dẫn đến sự mất lòng tin giữa nhiều quốc gia thành viên nhỏ và "siêu nhân" Liên Xô, vào năm 1983, "chiếm 88% lãnh thổ của Comecon và 60% dân số của nó. "Trong giai đoạn này, đã có một số nỗ lực để rời khỏi kế hoạch trung tâm, bằng cách thành lập các hiệp hội công nghiệp trung gian và kết hợp ở nhiều quốc gia khác nhau (thường được trao quyền để đàm phán các thỏa thuận quốc tế của riêng họ). Tuy nhiên, các nhóm này thường tỏ ra "khó sử dụng, bảo thủ, không thích rủi ro và quan liêu", tái tạo các vấn đề mà họ đã dự định giải quyết. 1 thành công kinh tế của những năm 1970 là sự phát triển của các mỏ dầu của Liên Xô. Trong khi không nghi ngờ gì ", Trung và Đông Âu phẫn nộ khi phải trả một số chi phí để phát triển nền kinh tế của người chồng và kẻ áp bức đáng ghét của họ," họ được hưởng lợi từ giá thấp cho nhiên liệu và các sản phẩm khoáng sản khác. Do đó, các nền kinh tế Comecon thường cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ vào giữa những năm 1970. Họ hầu như không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Một lợi ích kinh tế ngắn hạn khác trong giai đoạn này là mang lại cơ hội đầu tư và chuyển giao công nghệ từ phương Tây. Điều này cũng dẫn đến việc nhập khẩu các thái độ văn hóa phương Tây, đặc biệt là ở Trung Âu. Tuy nhiên, nhiều cam kết dựa trên công nghệ phương Tây đã không thành công (ví dụ, nhà máy máy kéo Ursus của Ba Lan đã không làm tốt với công nghệ được cấp phép từ Massey Ferguson); đầu tư khác bị lãng phí vào những thứ xa xỉ cho giới thượng lưu, và hầu hết các quốc gia Comecon đã mắc nợ phương Tây khi dòng vốn chết dần khi mờ dần vào cuối những năm 1970, và từ năm 1979 đến 1983, tất cả Comecon đều trải qua thời kỳ suy thoái (với các trường hợp ngoại lệ có thể có của Đông Đức và Bulgaria) họ không bao giờ phục hồi trong thời kỳ Cộng sản. Romania và Ba Lan đã trải qua sự suy giảm lớn trong mức sống.

3. Vai trò của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)

Trong thời gian hoạt động, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) đã có những giúp đỡ to lớn đối với sự phát triển của các nước thành viên nhất là Cuba và Việt Nam. Trong đó, Việt Nam là nước yếu được cưu mang giúp đỡ từ 09 nước anh em. Từ khi gia nhập cho đến năm 1987, SEV đã hỗ trợ cho Cuba đên gần 4 tỷ US$, cho Việt Nam 2 tỷ (50% viện trợ quân sự) và cho Mông Cổ 1 tỷ.

Từ năm 1951 đến năm 1973, dù còn nhiều khó khăn và hạn chế, song tốc độ tăng trưởng công nhiệp của các nước trong khối SEV là khoảng 10% tổng sản phẩm trong nước (GDP) của các nước thành viên 1973 tăng 5,7 lần so với năm 1950, sản xuất đạt 33% so với thể giới. Thành tự hiện hữu cụ thể là đã xây dựng được mạng lưới giao thông đường sắt và mạng lưới điện cho các nước XHCN Đông Âu, thành lập được Ngân hàng Hợp tác kinh tế và đường ống dẫn dầu hữu nghị được xây dựng, các nước Đông âu được sử dụng dầu hoả từ vùng sông Volga của Liên Xô. Và Liên Xô cũng chính là nước giữ vai trò quyết định trong khối SEV bởi thời điểm đó Liên Xô là nước phát triển thành công nhất khi lựa chọn đường đi đúng hướng tỏng chế độ xã hội chủ nghĩa. Với sự phát triển của mình, Liên Xô trong suốt 20 năm đã viện trợ không hoàn cho các nước thành viên trong khối SEV tới 20 tỷ rúp (đơn vị tiền Nga).

4. Hạn chế của Hội tương trợ kinh tế (SEV)

Sau khi thành lập Hội tương trợ kinh tế (SEV) đã luôn nỗ lực thực hiện mục tiêu thành lập của mình, đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế qua việc phối hợp giữa các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. SEV có định hướng phát triển lâu dài và đã lập kinh tế dài hạn như phân công sản xuất theo hướng chuyên ngành trong quy mô các nước xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh thương mại hoá qua việc trao đổi và mua bán hàng hoá giữa các nước và hỗ trợ lẫn nhau để xuất khẩu ra nước ngoài đồng thời còn phát triển công nghiệp, nông nghiệp giao thông vận tải và hợp tác khoa học kỹ thuật để cùng nhau phát triển.

Tuy nhiên trong thời gian hoạt động do SEV còn bộc lộ nhiều thiếu sót, sai lầm nên kế hoạch dài hạn đã lập chưa hoàn toàn được thực hiện. Một số hạn chế mà SEV bộc lộ như:

- Khép kín cửa và không hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Điều này có thể thấy ở ngay định hướng chỉ phát triển trong phạm vi các nước XHCN trong khi kinh tế trên toàn thế giới đang ngày càng quốc tế hoá cao độ tức là phát triển hội nhập với các quốc gia trên thế giới.

- Hàng hoá trao đổi trong khối SEV mang tính bao cấp.

- Nền kinh tế chỉ huy

Do đó sau hơn 40 năm hoạt động, ngày 28/06/1991, Hội nghị đại biểu các nước thành viên đã quyết định chấm dứt mọi hoạt động và giải thể Hội tương trợ kinh tế (SEV). Nguyên nhân chủ yếu là do sự sụp đổ chế độ chủ nghĩa của các nước Đông Âu và trước biến đổi về tình hình thế giới, định hướng phát triển của Hội đồng tương trợ kinh tế không phù hợp, các nước trong khối không có cơ hộ vươn mình ra quốc tế.

SEV tính đến thời điểm hiện tại đã giải thể và không còn xuất hiện trên thế giới gần 30 năm do đó mỗi khi nhắc tối SEV người ta không còn cho đó là cái tên chỉ để gọi Hội tương trợ quốc tế ngoại trừ một số trường hợp.

5. Có bao nhiêu thành viên trong Hội đồng tương trợ kinh tế ?

- Đất nước Bulgaria gia nhập vào tháng 1 năm 1949.

- Đất nước Tiệp Khắc gia nhập vào tháng 1 năm 1949.

- Đất nước Hungary gia nhập vào tháng 1 năm 1949.

- Đất nước Ba Lan gia nhập vào tháng 1 năm 1949.

- Đất nước Romania gia nhập vào tháng 1 năm 1949.

- Liên Xô gia nhập vào tháng 1 năm 1949.

- Đất nước Albania gia nhập vào tháng 2 năm 1949.

- Cộng hòa Dân chủ Đức đã tham gia vào Hội đồng tương trợ kinh tế trong năm 1950.

- Đất nước Mông Cổ gia nhập vào năm 1962.

- Đất nước Cuba đã tham gia vào Hội đồng tương trợ kinh tế vào năm 1972.

- Đất nước Việt Nam gia nhập vào năm 1978

Bên cạnh đó còn có các thành viên khác tham gia với vai trò là các quan sát viên như: Lào, Algeria, Ethiopia, Triều Tiên.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)