Mặc dù thuật ngữ “hôn nhân thực tế” không được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam, nhưng trên thực tế, đây là một khái niệm vẫn thường được sử dụng trong đời sống xã hội cũng như trong một số văn bản giải thích pháp luật và thực tiễn xét xử.

Về bản chất, hôn nhân thực tế là mối quan hệ giữa một nam và một nữ sống chung với nhau như vợ chồng, có đầy đủ các biểu hiện của một gia đình – như cùng nhau tổ chức cuộc sống, có con chung, chia sẻ tài chính và nghĩa vụ với nhau – nhưng lại không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dù thực tế họ đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình (ví dụ: cả hai đều đủ tuổi, không có quan hệ huyết thống, không bị mất năng lực hành vi dân sự, v.v.).

Trong trường hợp này, về mặt pháp lý, quan hệ giữa họ không được công nhận là hôn nhân hợp pháp, do thiếu yếu tố bắt buộc là đăng ký kết hôn, theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Tuy nhiên, cần lưu ý: Pháp luật Việt Nam không công nhận mọi trường hợp sống chung như vợ chồng là hôn nhân thực tế. Chỉ một số trường hợp nhất định, đáp ứng các điều kiện cụ thể, mới được pháp luật xem xét công nhận.

Tóm lại: Hôn nhân thực tế là trường hợp nam nữ chung sống với nhau và thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận hôn nhân hợp pháp, được giải quyết quyền, lợi ích và nghĩa vụ như hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân thực tế là một thuật ngữ pháp lý để chỉ những trường hợp hai bên nam nữ chung sống trong quan hệ vợ chồng, đã được gia đình, xã hội thừa nhận nhưng chưa được đăng ký tại cơ quan hộ tịch, chưa được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

 

1. Phân biệt với "sống thử" và "hôn nhân hợp pháp"

Sống thử là một hình thức chung sống giữa hai người có quan hệ tình cảm yêu đương mà không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Mối quan hệ này thường bắt nguồn từ sự tự nguyện của cả hai bên, mang tính chất tự do cá nhân, không có sự ràng buộc về pháp lý. Đặc điểm nổi bật của sống thử là không có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, nên không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng hợp pháp. Việc sống thử thường được xem như một giai đoạn “thử nghiệm” để hai người tìm hiểu mức độ hòa hợp trước khi quyết định tiến tới hôn nhân chính thức. Tuy nhiên, do thiếu sự cam kết rõ ràng và lâu dài, các bên trong mối quan hệ sống thử dễ chia tay mà không cần thực hiện bất kỳ thủ tục pháp lý nào. Điều này dẫn đến những rủi ro đáng kể, đặc biệt trong trường hợp phát sinh tài sản chung hoặc có con chung, bởi khi chấm dứt mối quan hệ, các vấn đề liên quan sẽ không được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Hệ quả là một trong hai bên, thường là phụ nữ, có thể phải gánh chịu nhiều thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần, mà không được pháp luật bảo vệ đầy đủ.

Ngược lại, hôn nhân hợp pháp là mối quan hệ vợ chồng được xác lập dựa trên sự tự nguyện của nam và nữ khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn theo luật định, và được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hôn nhân hợp pháp mang tính chất ràng buộc về mặt pháp lý, tình cảm và đạo đức, trong đó cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ rõ ràng đối với nhau cũng như đối với con cái và gia đình. Khi có đăng ký kết hôn, pháp luật sẽ công nhận và bảo vệ mối quan hệ này, tạo cơ sở để xử lý các tranh chấp phát sinh trong đời sống hôn nhân, đặc biệt là khi ly hôn. Trong trường hợp đó, quyền lợi của vợ chồng và con cái sẽ được xem xét và phân xử công bằng theo pháp luật. Hôn nhân hợp pháp không chỉ giúp xây dựng một gia đình ổn định, bền vững mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các quyền liên quan đến tài sản, thừa kế, bảo hiểm, hộ tịch và các chính sách xã hội khác. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình một cách bền vững, được pháp luật và xã hội ghi nhận.

Trong quá trình thực hiện hoạt động tư vấn và giải quyết các tranh chấp liên quan đến hôn nhân thực tế, Luật Minh Khuê nhận thấy các tranh chấp phổ biến phát sinh từ hôn nhân thực tế thường xoay quanh:

  • Tài sản: Việc phân chia tài sản khi chấm dứt quan hệ thường phức tạp do không có cơ sở pháp lý rõ ràng về tài sản chung vợ chồng.
  • Con cái: Quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng và các vấn đề liên quan đến con chung cũng là điểm nóng tranh chấp.

 

2. Điều kiện để hôn nhân thực tế được công nhận 

Căn cứ tinh thần Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, hôn nhân thực tế được xác nhận là hợp pháp trong hai trường hợp chính sau đây:

2.1. Trường hợp 1: Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987

Đây là những cặp đôi bắt đầu chung sống như vợ chồng trước ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực (03/01/1987), và chưa đăng ký kết hôn.

  • Khuyến khích đăng ký kết hôn: Theo quy định tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 (hiện đã hết hiệu lực), các cặp đôi này được khuyến khích đăng ký kết hôn. Điều này có nghĩa là, ngay cả khi họ không đăng ký kết hôn, quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận.
  • Thời điểm công nhận: Quan hệ vợ chồng được công nhận từ thời điểm các bên bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng.
  • Điều kiện xác định: Hai bên phải có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật hiện hành và thỏa mãn một trong các trường hợp sau:
    • Có tổ chức lễ cưới.
    • Được gia đình của một bên hoặc cả hai bên chấp thuận.
    • Được cá nhân/tổ chức khác chứng kiến.
    • Thực sự chung sống, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau xây dựng gia đình.
  • Giải quyết ly hôn: Nếu một bên hoặc các bên yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết, mặc dù họ không đăng ký kết hôn.

2.2. Trường hợp 2: Quan hệ vợ chồng được xác lập từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001

Các cặp đôi xác lập quan hệ vợ chồng trong khoảng thời gian này có nghĩa vụ đăng ký kết hôn nếu đủ điều kiện.

Nghĩa vụ đăng ký kết hôn: Theo mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 (đã hết hiệu lực), các cặp đôi này cần đăng ký kết hôn trong thời hạn từ 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 để được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Thời điểm công nhận: Nếu đăng ký kết hôn trong thời hạn này, hôn nhân thực tế được công nhận từ ngày hai bên bắt đầu chung sống như vợ chồng.

Hậu quả khi không đăng ký kết hôn:

  • Đăng ký sau thời hạn: Nếu đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003, quan hệ vợ chồng chỉ được công nhận từ ngày đăng ký kết hôn. Khoảng thời gian chung sống trước đó không được công nhận là hôn nhân thực tế.
  • Không đăng ký kết hôn: Nếu không đăng ký kết hôn sau thời hạn này, pháp luật không công nhận họ là vợ chồng, dù có chung sống như vợ chồng.

2.3. Rủi ro pháp lý cần lưu ý khi chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn 

Việc không đăng ký kết hôn tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng, gây bất lợi cho các bên khi phát sinh tranh chấp hoặc chấm dứt quan hệ.

  • Tranh chấp thừa kế: Một trong những rủi ro lớn nhất là không được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật nếu không có di chúc. Người chung sống như vợ chồng không được xem là hàng thừa kế thứ nhất của nhau.
  • Giới hạn quyền nuôi con: Khi ly tán, việc giành quyền nuôi con có thể gặp khó khăn hơn so với hôn nhân hợp pháp. Quyết định của Tòa án thường ưu tiên người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, nhưng các quyền và nghĩa vụ khác có thể bị hạn chế do không có cơ sở pháp lý vững chắc về hôn nhân.
  • Bất lợi khi ly tán: Tài sản thường phải được chia theo thỏa thuận hoặc chứng minh đóng góp. Chế độ tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình sẽ không được áp dụng, gây nhiều khó khăn và thiệt thòi cho bên yếu thế, đặc biệt là phụ nữ hoặc người không có thu nhập độc lập.

 

3. Giải quyết hậu quả khi chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế 

Khi quan hệ chung sống như vợ chồng chấm dứt, việc giải quyết các vấn đề tài sản và con cái thường phức tạp hơn nhiều so với hôn nhân hợp pháp.

3.1. Nguyên tắc phân chia tài sản

  • Tài sản riêng: Thuộc sở hữu của người đứng tên giấy tờ hoặc có chứng cứ chứng minh quyền sở hữu riêng.
  • Tài sản chung: Chia theo tỷ lệ đóng góp của mỗi bên. Việc chứng minh mức độ đóng góp (công sức, tiền bạc, lao động) là vô cùng quan trọng và thường là vấn đề gây tranh cãi lớn nhất.

3.2. Quyền lợi con cái

  • Nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cái, đây là nghĩa vụ bắt buộc dù có là hôn nhân hợp pháp hay không.
  • Giám hộ: Quyết định về người giám hộ cho con cái sẽ do Tòa án chỉ định dựa trên điều kiện thực tế, khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng và lợi ích tốt nhất của con.

 

4. Câu hỏi thường gặp (FAQs) về hôn nhân thực tế

Hôn nhân thực tế là một khái niệm phức tạp trong pháp luật Việt Nam với nhiều rủi ro tiềm ẩn. Để bảo vệ quyền lợi của bản thân và con cái, việc tìm hiểu kỹ lưỡng các quy định pháp luật và cân nhắc việc đăng ký kết hôn là vô cùng quan trọng. Dựa trên hoạt động thực tiễn, thường xuất hiện một số vướng mắc về vấn đề này như sau:

4.1. Đặc điểm hôn nhân thực tế là gì?

Hôn nhân thực tế có các đặc điểm sau:

  • Hôn nhân thực tế là việc hai người trong mối quan hệ đó được pháp luật công nhận là vợ chồng những giữa họ không có giấy đăng ký kết hôn do cơ quan có thẩm quyền cấp.
  • Phải có chứng cứ là hai người đã và đang chung sống như vợ chồng về mặt thực tế và thực sự coi nhau như vợ chồng.

Việc tồn tại khái niệm hôn nhân thực tế là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của đất nước trong thời kỳ trước đó.

4.2. Cách xác định hôn nhân thực tế?

Theo Thông tư 01/2001/ Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình thì những trường hợp hai bên nam nữ không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế, quyền và nghĩa vụ được áp dụng như hôn nhân hợp pháp như sau:

Trường hợp thứ nhất, hai bên nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng, xác lập quan hệ vợ chồng với nhau trước ngày 03/01/1987.

Các mối quan hệ hôn nhân của hai bên nam nữ hình thành từ thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực là thời điểm pháp luật chưa thật sự đi sâu và phổ biến trong đời sống của người dân. Những mối quan hệ vợ chồng được hình thành dựa sự tự nguyện và tình cảm của hai bên, dựa trên phong tục tập quán của mỗi địa phương, và có nhiều cặp vợ chồng không trình diện với cơ quan chức năng mà chỉ sống chung với nhau mà không có giấy hôn thú. Nắm bắt được tình hình đó, nhằm bảo đảm sự ổn định về mặt nhân khẩu tại địa phương, quy định của pháp luật vẫn công nhận những cặp vợ chồng này có hôn nhân hợp pháp.

Hôn nhân hợp pháp của những cặp vợ chồng này được tính từ thời điểm hai bên bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng ví dụ như: ngày hai bên nam nữ tổ chức đám cưới, kể từ ngày sống chung có người làm chứng của hai bên vợ chồng,,vv..Mặc dù những thời điểm đó không thật sự rõ ràng để xác định nhưng pháp luật vẫn ghi nhận để có thể dễ dàng giải quyết khi có tranh chấp. Theo đó, mặc dù họ chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn nhưng họ vẫn được đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp của vợ chồng; khi làm thủ tục ly hôn hay có tranh chấp về vấn đề gì thì vẫn được cơ quan chức năng áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Trường hợp thứ hai, hai bên nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng sau thời điểm Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực đến trước ngày 01/01/2001.

Đối với những trường hợp nam nữ sống chung với nhau kể từ sau khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đến trước thời điểm Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, mặc dù họ có đủ điều kiện theo quy định của luật để kết hôn nhưng vẫn chưa làm thủ tục đăng ký thì bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký kết hôn lên cơ quan có thẩm quyền để được công nhận là vợ chồng hợp pháp. Tuy nhiên trong thời điểm mà họ đăng ký kết hôn sẽ không được mặc định là thời điểm họ được xác lập mối quan hệ vợ chồng mà quan hệ của họ vẫn được công nhận kể từ ngày họ sống chung với nhau. Thời điểm họ về ở chung với nhau kể từ thời điểm họ có sự sống chung với nhau, chăm sóc giúp đỡ và cùng nhau xây dựng gia đình hay tính từ mốc thời gian tổ chức lễ cưới, về chung sống với nhau có người khác chứng kiến. Theo đó nếu sống chung với nhau trong khoảng thời gian này mặc dù Luật hôn nhân và gia đình 1986 đã có hiệu lực nhưng pháp luật vẫn cho các cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn một khoảng thời gian hợp lý để kịp thời bổ sung thủ tục này. Trong khoảng thời gian đó nếu có yêu cầu ly hôn hay giải quyết tranh chấp thì vẫn được áp dụng theo quy định pháp luật hiện hành để giải quyết. Theo quy định của Thông tư liên tịch 01/2001 thì những trường hợp này phải đăng ký kết hôn trong khoảng thời gian từ thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2001 đến thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2003.

Nếu như sau thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2003 mà các cặp vợ chồng không tiến hành thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn hợp pháp thì họ sẽ không được xem là vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Theo đó nếu có yêu cầu về thực hiện thủ tục ly hôn thì không áp dụng luật mà chỉ xử lý về vấn đề tranh chấp quyền nuôi con và tranh chấp phân chia tài sản.

Như vậy, việc quy định về các trường hợp hôn nhân thực tế được quy định rõ trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm khuyến khích việc đăng ký kết hôn giữa các bên nam nữ sống chung với nhau, và là cơ sở pháp lý để giải quyết những khó khăn, vướng mắc gặp phải khi các vấn đề liên quan đến mối quan hệ hôn nhân này có tranh chấp.

4.3. Hôn nhân thực tế có được công nhận không?

Để được coi là hôn nhân thực tế thì cần phải đáp ứng cả yếu tố về hình thức và yếu tố về nội dung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, “Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng”. Phân tích từ điều luật trên có thể thấy rằng đối với những trường hợp được coi là hôn nhân thực tế thì việc đăng ký kết hôn đặt ra chỉ mang ý nghĩa “khuyến khích” chứ không hề mang tính bắt buộc. Trong trường hợp đăng ký kết hôn thì thủ tục sẽ được thực hiện như đối với việc đăng ký kết hôn theo Pháp luật về Hộ tịch hiện hành. Nếu không tiến hành đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ngoài ra, tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 cũng có những quy định tương tự như điều luật chúng tôi vừa trích dẫn cũng có giá trị thừa nhận quan hệ hôn nhân thực tế.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận và nam, nữ trong cuộc hôn nhân thực tế đó được pháp luật thừa nhận là vợ chồng hợp pháp.

4.4. Quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014 về hôn nhân thực tế?

Hiện nay, trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không có điều luật nào quy định trực tiếp về “hôn nhân thực tế”. Tuy nhiên, không phải các nhà làm luật đã bỏ qua chế định này mà nó được thể hiện bằng một cách khác. Theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về điều khoản chuyển tiếp có quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.

Ở đây, cần lưu ý rằng quy định trên là quy định về “điều khoản chuyển tiếp” hay còn gọi là “quy định hồi tố”. Đây là quy định về những trường hợp phải áp dụng pháp luật cũ hay những quan hệ pháp luật được xác lập trước thời điểm pháp luật mới có hiệu lực thì khi nào áp dụng pháp luật cũ, khi nào áp dụng pháp luật mới. Do đó, hôn nhân thực tế sẽ không được quy định trực tiếp tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 mà sẽ áp dụng quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác.