Đến năm 1978, sau khi sinh ra tôi (con gái út) được 02 tháng thì bố mẹ tôi do mâu thuẫn gia đình đã tự nguyện chia tay nhau, tự thỏa thuận chia tài sản, con cái bao gồm: Mỗi người ½ đất ở, 3 người con đi theo bố, 04 con sống theo mẹ (Tất cả các thỏa thuận chỉ bằng miệng, không xác lập thành văn bản). Sau đó bố tôi bán phần đất của mình và đưa 2 con về Thái Bình sinh sống. Đến năm 1994 thực hiện theo quy định của luật đất đai, các hộ gia đình phải kê khai và đề nghị cấp quyền sử dụng đất; do cán bộ địa chính đến hỏi anh tôi là họ tên bố và họ tên mẹ để điền vào tờ khai đề nghị cấp đất (trong khi bố tôi đã bỏ mẹ con tôi đi về quê từ năm 1978, không thực hiện gì nghĩa vụ đối với nhà nước trên mảnh đất đó đến nay). Sau đó UBND huyện đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố tôi. Đến năm 2007, do tuổi già, sức yếu, mẹ tôi có đề nghị chính quyền địa phương tách bìa đỏ đó thành 5 phần, trong đó: 03 phần cho 3 con trai, 01 phần cho 4 người con gái, còn 01 phần mẹ tôi bán đi để lấy tiền làm nhà trên phần đất của 4 người con gái để sinh sống tuổi già, sau khi làm nhà xong có gửi 10 triệu đồng cho bố tôi ở dưới quê để làm quà. (tất cả các con đều nhất trí và có xác lập biên bản thống nhất). Đến năm 2014, khi mẹ tôi già yếu, lú lẫn, bố tôi quay lại đòi ½ số đất mà trước đây chia cho mẹ tôi với lý do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và việc cho các con phải có ý kiến của ông ấy. Xin nhờ Luật sư tư vấn: 1. Việc bố mẹ tôi tự sống chung với nhau, tự chia tay nhau, chia tài sản như trên có được pháp luật coi là đã chấm dứt quan hệ vợ chồng (như ly hôn) hay không? ( tính từ thời điểm năm 1978). 2. Việc UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 lấy tên bố tôi đứng tên chủ hộ có đúng quy định của pháp luật lúc đó không? ( tại thời điểm này bố tôi không có mặt ở nơi được cấp đất, không có đơn, chữ ký đề nghị cấp đất và đã chấm dứt quan hệ vợ chồng với mẹ tôi, đã tự thỏa thuận chia tài sản...). 3. Việc mẹ tôi tách bìa mang tên bố tôi để cho các con như trình bày ở trên có đúng quy định của pháp luật không? Tất cả những tình tiết trên là hoàn toàn có thật và đúng thực tế, kính mong Luật sư tư vấn giúp. Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Ly hôn đối với hôn nhân thực tế và chia tài sản ?

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Nghị quyết 35/2000/QH10

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Công văn 4982/BTP/VP

Luật Đất đai 2013.

2. Nội dung phân tích:

Căn cứ vào quy định tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 như sau:

3. Việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ công văn 4982/BTP-VP ngày 23/8/2011 của Bộ Tư pháp như sau: "Theo hướng dẫn trên thì những người chung sống với người khác như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng đến ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng; hoặc những người chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 nhưng hiện nay không còn chung sống với nhau thì cũng không được coi là người đang có vợ hoặc đang có chồng. Như vậy, những trường hợp nêu trên không phải yêu cầu đương sự làm thủ tục ly hôn. Tuy nhiên, trong trường hợp hai bên có yêu cầu ly hôn thì Tòa án vẫn thụ lý giải quyết và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng (Điểm c, Mục 3, Nghị quyết số 35/2000/QH10)."

Như vậy, trong trường hợp của bố mẹ bạn: tuy đã hình thành hôn nhân thực tế nhưng đã chia tay từ thời điểm năm 1978, tức là thuộc trường hợp không được coi là người đang có vợ hoặc đang có chồng. Nếu bố mẹ bạn yêu cầu ly hôn thì Tòa án vẫn thụ lý giải quyết, nhưng nếu không có yêu cầu thì pháp luật cũng không bắt buộc đương sự phải làm thủ tục ly hôn. Như vậy, với thỏa thuận ly hôn và chia tài sản từ năm 1978, có thể coi như quan hệ hôn nhân của bố mẹ bạn đã chấm dứt.

Căn cứ Điều 36 Luật Đất đai 1993 như sau:

Điều 36

>> Xem thêm:  Thủ tục chia tài sản trong quá trình hôn nhân thực hiện như thế nào ?

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo các quy định sau đây:

1- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương phát hành;

2- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp Chính phủ quyết định giao đất thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

3- Trong trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân không cùng một hộ gia đình hoặc không cùng một tổ chức sử dụng, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đến từng tổ chức, từng hộ gia đình, từng cá nhân.

Căn cứ Điều 3 Nghị định 04/2000/NĐ-CP như sau:

Điều 3. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (gọi tắt là Nghị định số 17/1999/NĐ-CP của Chính phủ), thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nêu tại khoản này mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa có quyết định thu hồi đất để thực hiện quy hoạch đó thì vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải chấp hành đúng các quy định về xây dựng. Khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy hoạch xây dựng thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được đền bù thiệt hại về đất, tài sản có trên đất theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có các giấy tờ nêu tại khoản 1 Điều này, được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp thì được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ nêu tại khoản này mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

>> Xem thêm:  Giấy cam kết có còn hiệu lực không khi một bên qua đời ?

3. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sau đây:

a) Tổ chức sử dụng đất;

b) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng các loại đất tại nội thành phố, nội thị xã và đất ở, đất chuyên dùng tại thị trấn;

c) Nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo;

d) Cộng đồng dân cư sử dụng đất có công trình như: đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ tại đô thị.

4. ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sau đây:

a) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại nông thôn và tại thị trấn;

b) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở, đất chuyên dùng tại nông thôn;

c) Cộng đồng dân cư sử dụng đất có công trình như: đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ tại nông thôn.

Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất mà gia đình bạn đang sử dụng là sai về đối tượng, vì bố của bạn đã đi khỏi địa phương từ năm 1978, không còn quyền lợi hay thực hiện nghĩa vụ gì về đất đai từ đó đến nay. Bạn có thể khiếu nại về quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chính quyền địa phương và yêu cầu điều chỉnh lại.

>> Xem thêm:  Tư vấn về sở hữu tài sản sau hôn nhân ?

Việc mẹ bạn tiến hành tách thửa đất để chia cho các con là hoàn toàn đúng pháp luật về tặng cho tài sản trong dân sự. Tuy nhiên để thuận tiện hơn trong quá trình làm thủ tục sang tên đối với quyền sử dụng đất thì gia đình bạn cần yêu cầu cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mẹ của bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự. 

>> Xem thêm:  Muốn nhận thừa kế của ông nội thì phải làm thủ tục thế nào?