1. Mẫu hợp đồng ký gửi hàng hóa

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

------------------------------------------------ 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--------------

 

HỢP ĐỒNG KÝ GỞI HÀNG HÓA

Hợp đồng số ……/HĐKG

Hợp đồng này được thành lập ngày  … tháng … năm …. Tại: ………......…… 

Chúng tôi gồm:

1. BÊN GIAO HÀNG: …………(tên doanh nghiệp hoặc chủ hàng) …………… 

Địa chỉ: ………………………………………………………………………………… 

Điện thoại: …………………………………………………………………………… 

Đại diện là ông (bà): ……………………  CMND số ………………………….… 

Cấp ngày …………………… tại ………………………………………………… 

2. BÊN ĐẠI LÝ BÁN HÀNG: ………….. (tên cửa hàng, siêu thị)

Đại diện là: ……………………………. CMND số ……………………..………… 

Cấp ngày …………………… tại …………………………………………………… 

Địa chỉ: ………………………………………………………………………………… 

Điện thoại: …………………………………………………………………………… 

Hai bên thỏa thuận lập hợp đồng ký gởi hàng hóa với các điều khoản sau:

Điều 1: Đối tượng của hợp đồng

1. Bên chủ hàng …………………. Giao cho bên đại lý phát hành phân phối, bán lẻ theo phương thức ký gởi các mặt hàng, giá cả, số lượng, tỉ lệ hoa hồng được chiết khấu theo bảng mục dưới đây:

Số TT

Tên hàng

Đơn vị tính

Số lượng

Đơn giá

Chiết khấu

Thành tiền

Ghi chú

Cộng

2. Cửa hàng bán hàng chủ yếu theo phương thức giao hàng thu tiền ngay. Chỉ bán thiếu cho khách hàng khi được bên chủ hàng đồng ý và ra các điều kiện hợp lý.

3. Cửa hàng có quyền trả lại những mặt hàng xét thấy khó tiêu thụ bất cứ lúc nào, có quyền từ chối nhận ký gởi những mặt hàng chậm luân chuyển.

 

Điều 2: Quy cách giao nhận hàng

  1. Chủ hàng phải chịu mọi thủ tục và chi phí giao hàng phải thông báo trước cho chủ cửa hàng địa điểm giao nhận hàng (nếu không thể đưa trực tiếp đến cửa hàng được).
  2. Sau khi nhận hàng, cửa hàng phải chịu trách nhiệm về sự hư hỏng, mất mát, mặc dù quyền sở hữu hàng hóa tại cửa hàng vẫn thuộc về bên giao hàng và có quyền rút hàng ký gửi về bất cứ lúc nào.

 

Điều 3: Phương thức thanh toán

Cửa hàng thực hiện việc kiểm hàng và thanh toán theo phương thức: (hoặc bán hết giao tiền sau khi đã trừ chiết khấu hoa hồng hoặc thanh toán vào ngày cố định trong tháng sau khi kiểm sổ hàng thực tế đã bán).

 

Điều 4: Treo bảng hiệu tên chủ cửa hàng

  1. Cửa hàng muốn treo bảng hiệu mang tên doanh nghiệp của chủ hàng phải được sự đồng ý của chủ hàng.
  2. Bảng hiệu sẽ do chủ hàng thiết kế đúng quy cách được Nhà nước cho phép.

 

Điều 5: Bảo hành, sửa chữa hàng hóa

  1. Cửa hàng có thể thay mặt chủ hàng (ở xa) trong chức năng, bảo hành, sửa chữa hàng hóa trong quá trình giao dịch với khách hàng, theo thời hạn do chủ hàng ấn định và phải thanh toán chi phí sửa chữa, cung ứng phụ tùng và các hàng hóa cần thay thế.
  2. Việc huấn luyện kỹ nghệ lấp ráp, bảo hành, sửa chữa là trách nhiệm của chủ hàng cho người của cửa hàng đại lý.

 

Điều 6: Chấm dứt hợp đồng

Hợp đồng không cho phép cửa hàng chuyển nhượng cho bên thứ ba. Bên nào cần chấm dứt hợp đồng vào thời điểm nào phải báo trước cho bên kia trong vòng… ngày. Thời gian, địa điểm và chi phí chuyên chở việc trả hàng sẽ do bên nào chủ động chấm dứt hợp đồng chịu.

 

Điều 7: Giải quyết tranh chấp

Khi phát sinh các tranh chấp trong hợp đồng này hai bên chủ động thương lượng giải quyết, chỉ kiện ra Tòa án khi nội dung tranh chấp có giá trị lớn mà hai bên không thể hòa giải được.

Hợp đồng này được làm thành …. bản. Mỗi bên giữ …. bản có giá tị như nhau.

 ĐẠI DIỆN CHỦ HÀNG   

 Ký tên  

ĐẠI DIỆN CỬA HÀNG

 Ký tên

                                                                                       

 

2. Hợp đồng, hình thức của hợp đồng

Theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

=> Nhận xét: So với định nghĩa về hợp đồng trong Bộ luật dân sự trước đây có thể nhận thấy định nghĩa về hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2015 có một sự tiến bộ đáng kể: Nếu Điều 394 Bộ luật dân sự của năm 2005 sử dụng thuật ngữ “Khái niệm hợp đồng dân sự” thì Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ đi cụm từ “dân sự” và chỉ để “Khái niệm hợp đồng”. Định nghĩa này thể hiện sự tiến bộ và hợp lý bởi lẽ khái niệm hợp đồng vừa thể hiện sự ngắn gọn, súc tích vừa mang tính khái quát cao được hiểu là bao gồm tất cả các loại hợp đồng theo nghĩa rộng (hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ…) chứ không chỉ là các hợp đồng dân sự theo nghĩa hẹp đơn thuần.

Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện sự thỏa thuận của các bên. Hình thức của hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Có một số hợp đồng bắt buộc phải công chứng như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất… còn lại thì không yêu cầu bắt buộc công chứng.

 

3. Khái niệm ký gửi hàng hóa 

Ký gửi là việc bên có tài sản chuyển quyền quản lý, định đoạt tạm thời đối với tài sản của mình cho bên nhận ký gửi thông qua hợp đồng.

Như vậy, hợp đồng ký gửi là sự thỏa thuận của các bên mà trong đó bên sở hữu tài sản sẽ chuyển quyền định đoạt tạm thời cho bên nhận ký gửi.

Trong hợp đồng này, bên nhận bán hàng ký gửi sẽ có quyền bán hoặc quyền định đoạt khác đối với tài sản.

Hợp đồng mua bán ký gửi hàng hóa được ghi nhận trong Luật thương mại dưới hình thức ủy thác như sau: “Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.”

=> Như vây, đối tượng của hợp đồng ký gửi hàng hóa thông thường là hàng hóa. Hàng là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa trong hợp đồng ký gửi là hàng hóa hữu hình như: sách vở, bát đĩa, quần áo,…

Trên thực tế, rất nhiều tài sản là đối tượng của hợp đồng ký gửi như: nhận ký gửi quần áo, ký gửi đồ thời trang, …

Hàng hóa trong hợp đồng ký gửi không được là hàng cấm, hàng nguy hiểm đến tính mạng, hàng cấm lưu thông trên thị trường.

Hoạt động ký gửi diễn ra nhiều trong mua bán hàng hóa. Theo cách hiểu thông thường, ký gửi là việc bên ký gửi nhờ bên nhận ký gửi bán hộ hàng và có trả thù lao theo thỏa thuận.

=> Như vậy, theo cách hiểu này, thì ký gửi là một dịch vụ thương mại.

Bởi vì thông qua việc ký gửi/ ủy thác, bên có tài sản sẽ được bên nhận ký gửi/ ủy thác thực hiện việc mua bán hộ đồng thời bên ký gửi phải trả một khoản thù lao cho bên nhận ký gửi.

 

4. Chủ thể ký gửi hàng hóa 

Như ta nêu ở trên: Hợp đồng mua bán ký gửi hàng hóa được ghi nhận trong Luật thương mại dưới hình thức ủy thác như sau:

“Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.”

Nếu hợp đồng ký gửi mang tính chất của hợp đồng dịch vụ thì các bên trong hợp đồng là chủ thể của giao dịch dân sự theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015:

 “Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;”

Khi tham gia hợp đồng ký gửi, chủ thể tham gia phải đáp ứng được năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự đồng thời hoàn toàn tự nguyện tham gia giao dịch.

Tuy nhiên, đối với hợp đồng ủy thác trong thương mại thì bên ủy thác và bên nhận ủy thác phải đáp ứng được yêu cầu của Luật thương mại tại Điều 156 như sau:

“Bên nhận uỷ thác mua bán hàng hoá là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện mua bán hàng hoá theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác.”

Theo Điều 157 Luật Thương mại năm 2005 quy định cụ thể về bên ủy thác như sau:

“Bên uỷ thác mua bán hàng hoá là thương nhân hoặc không phải là thương nhân giao cho bên nhận uỷ thác thực hiện mua bán hàng hoá theo yêu cầu của mình và phải trả thù lao uỷ thác.”

=> Như vậy, bên nhận ủy thác phải là thương nhân, còn bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân. Như vậy, hợp đồng ủy thác là hợp đồng giữa một bên là thương nhân về việc ủy thác hàng hóa.

 

5. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng ký gửi 

Thứ nhất: Quyền và nghĩa vụ của bên ký gửi (bên ủy thác)

Trong hợp đồng ký gửi, bên ký gửi bên ký gửi có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

- Yêu cầu bên nhận uỷ thác thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp đồng uỷ thác;

- Không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật;

- Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác

- Trả thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủy thác;

- Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;

- Liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác vi phạm pháp luật mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật.

Thứ hai: Quyền và nghĩa vụ của bên nhận ký gửi (ủy thác)

Trong hợp đồng ký gửi (ủy thác), bên nhận ký gửi có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

- Yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;

- Nhận thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác;

- Không chịu trách nhiệm về hàng hoá đã bàn giao đúng thoả thuận cho bên uỷ thác.

- Thực hiện mua bán hàng hoá theo thỏa thuận;

- Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;

- Thực hiện các chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với thoả thuận;

- Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷ thác;

- Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ thác;

- Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;

- Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra.