Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
Bộ luật dân sự năm 2015
2. Luật sư tư vấn:
Căn cứ Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
"Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản"
Trường hợp của anh thì mình phải xem xét xem hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã có công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng hay chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã chưa.?.
Trường hợp 1: Nếu hợp đồng đó chưa công chứng chứng thực thì Hợp đồng tặng cho đó sẽ bị vô hiệu do vi phạm điều kiện hình thức. Căn cứ Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2005: " Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu."
Trong trường hợp này thì hậu quả pháp lý là Theo điều Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu - Bộ luật dân sự năm 2005
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.” Như vậy, mảnh đất đó vẫn thuộc quyền sở hữu của anh.
Trường hợp 2 nếu hợp đồng đó phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng tặng cho của anh là hợp đồng tặng cho có điều kiện. Căn cứ vào Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2005:
"- Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
- Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
- Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại."
Nghĩa vụ xây nhà và phụng dưỡng, chăm sóc ông bà là nghĩa vụ không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Tuy nhiên nếu là hợp đồng tặng cho có điều kiện thì trong hợp đồng công chứng buộc phải thể hiện điều kiện tặng cho của hợp đồng. Nếu thỏa thuận này chỉ là thỏa thuận miệng và nội bộ ghi nhận thì không có giá trị pháp luật.
Theo trình bày của bạn thì giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn căng thẳng. Trong trường hợp khởi kiện tại tòa án nhân dân có thẩm quyền, tòa án sẽ tiến hành hòa giải giữa hai bên. Nếu hòa giải không thành, tòa án sẽ đưa vụ việc ra xét xử. Tòa án sẽ căn cứ vào các sự kiện thực tế và các quy định của pháp luật để xem xét D và E có vi phạm nghĩa vụ là điều kiện để tặng cho hay không, từ đó quyết cụ thể D và E có phải trả lại cho anh đất (quyền sử dụng đất) hay không.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê