1. Hướng dẫn làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có 1 vấn đề rất muốn được anh (chị) tư vấn.Sự việc là trong năm 2013 em có nhờ 1 người chạy vào trường trung cấp an ninh.em có giao tiền và hồ sơ để người đó chạy vào học trường tcan tuy nhiên không được người đó đã trở mặt không trả lại tiền.sau rất nhiều lần đòi thì vẫn không có kết quả, em muốn đưa ra pháp luật. Về chứng cứ em có giấy viết tay và bản ghi âm, trong đó người đó có xác nhận việc cầm tiền của em ?

Tư vấn:

Bạn có thể tố cáo lên công an quận về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người này kèm theo những chứng cứ mà bạn có. Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Thưa luật sư, xin hỏi: Nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn A, anh Trần Văn B (là bạn anh A) nói dối với anh A là cho B mượn chiếc điện thoại di động để sử dụng 01 ngày rồi trả lại. Anh A tin lời nên đã cho B mượn điện thoại của mình. Sau khi có được điện thoại di động, B đã mang tài sản trên bán lại cho X. Sự việc sau đó bị phát hiện và điện thoại vẫn còn trên thực tế (không bị hư hỏng gì), Hỏi: Anh A có được đòi lại tài sản của mình từ X hay không? vì sao?

Theo Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Giao dịch giữa A và B có thể sẽ bị tuyên bố vô hiệu do A bị lừa dối và hai bên sẽ hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Kính gửi luật sư minh Khuê Tôi tên là Mai hiện tôi cần sự tư vấn của luật sư về những vấn đê như sau : 1/ ông bà tôi năm nay 90 tuổi già yếu , ko lao động được . Người con trai cả lợi dụng lúc già yếu uy hiếp tinh thần và mục đích chủ yếu là lấy tiền và mảnh đất ông bà đang sống . Họ đã lấy đi 50 triệu đồng tiền của ông bà giành dụm hơn 20 mươi năm để lo chí phí thuốc thang , chi phí hàng ngày . 2 / con cháu đứng ra bảo vệ cho ông bà thì bị gia đình họ nói sẽ thuê Giang hồ đến chém chết từng người . Và đến quậy phá gia đình anh , em cũng như gia đình ông bà nội . Dừ từ ngữ vô văn hoá , xúc phạm ức hiệp chính cha mẹ ruột mình Vì thế luật sư có thể vui lòng cho chúng tôi biết đây có được coi là phạm tội cương đoạt tài sản và uy hiếp ko ? Nếu có thì xử phạt ra sao và chúng tôi phải làm thế nào để ngăn chạn hành động này theo pháp luật Việt nam Xin chân thành câu trả lời của luật sư

Người con đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

>> Xem thêm:  Giả mạo chữ ký để thừa kế tài sản giải quyết như thế nào ? Cách chia tài sản thừa kế hợp pháp ?

2. Kế toán ở UBND xã chiếm đoạt tài sản phạm tội gì ?

XIn hỏi: 1. Bạn tôi làm Kế toán ở UBND xã, trong quá trình thực thi nhiệm vụ được phụ trách làm kế toán thu và kế toán các chương trình dự án trên địa bàn xã. Trong năm 2012 bạn tôi có thu Một số khoản thu như: thu phí chứng thực, thu phạt, thu các khoản do dân đóng góp... với số tiền là 110.000.000đ nhưng chưa nộp vào ngân sách mà bạn tôi sử dụng vào mục đích cá nhân nay không có khả năng hoàn trả ?
2. Bạn tôi làm kế toán cho chương trình 167 xã hỗ trợ làm nhà cho người nghèo và bắc nước sạch sinh hoạt cho các hộ dân nhưng tiền rút về để chi trả cho dân bạn tôi đã lấy tiêu xài hết giờ không có khả năng trả. ( tiền thủ quỹ rút từ kho bạc về trên đường đi thủ quỹ giao cho bạn tôi giữ nên bạn đã tiêu xài hết )? Cả hai trường hợp như trên thì bạn tôi đã phạm vào tội gì và mức xử phạt như thế nào ?
Cảm ơn Luật sư.
Người gửi: P.V Trinh

Tư vấn:

Theo quy định tại Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội tham ô tài sản thì:

Điều 353. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;

e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.

Hai trường hợp kế toán viên mà ban kể trên, tùy theo mức độ và số tiền đã tham nhũng từ các khoản mà chịu mức hình phạt khác nhau. Trường hơp thú nhất, kế toán viên đã sử dụng số tiền là 110 000 000 VNĐ. Xét theo quy định tại khoản 2 điều trên thì bạn của bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự từ 7 đến 15 năm tù (tùy thuộc vào trường hợp kế toán viên có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ). Đối với trường hợp thứ hai, người kế toán cũng phải chịu TNHS theo quy định tại điều luật trên, tùy thuộc vào số tiền là bao nhiêu.

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

3. Cấu thành tội lừa chiếm đoạt tài sản qua mạng ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê, tháng 8/2019,tôi có một người bạn ở TP A hỏi mượn máy Thanh toán thẻ (máy POS)của công ty do tôi làm giám đốc. Người này sử dụng máy POS để giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng giả của người nước ngoài. Tiền giao dịch thành công chuyển vào tài khoản của tôi, tôi thực hiện ủy nhiệm chi vào tài khoản theo chỉ định của bạn.
Người này cho tôi 30% tổng số tiền giao dịch. Khi mượn bạn tôi nói là để thanh toán bán hàng. Sau này ngân hàng báo máy POS của tôi thực hiện nhiều giao dịch bằng thẻ giả tôi mới biết là bạn tôi sử dụng để quẹt thẻ lấy tiền. Sau đó, tôi bị triệu tập để điều tra, họ nói tôi phạm vào điều 290 Bộ luật hình sự. Tổng số tiền bạn tôi đã quẹt thẻ khoảng 12 tỷ đồng, thành công khoảng 5 tỷ.
Các giao dịch của bạn tôi không bán hàng hóa, dịch vụ gì mà chỉ quẹt thẻ để lấy tiền.Bạn tôi đã bỏ trốn.xin hỏi tôi sẽ bị xử lý như thế nào? Nếu xử phạt hành chính thì theo điều nào? Số tiền tối đa phải nộp là bao nhiêu?
Tôi xin cảm ơn công ty luật Minh Khuê !

Cấu thành tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số để chiếm đoạt tài sản ?

Trả lời:

Theo Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

Điều 290. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

d) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;

đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;

c) Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các công cụ phạm tội như sử dụng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số thể hiện ở một số dạng như sau:

+ Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Trong đó, làm giả thẻ ngân hàng là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).

+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là việc cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa hoặc sử dụng mã truy cập của người khác mà không được sự cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản không phải của mình để chiếm đoạt tài sản.

+ Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hành vi lừa đảo ở đây thể hiện ở việc sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu trên mạng nhằm tạo niềm tin cho người chủ tài sản, người quản lý tài sản, làm cho họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó.

+Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hành vi khác ở đây có thể là gửi tin nhắn lừa trúng thưởng nhưng thực tế không có giải thưởng để chiếm đoạt phí dịch vụ tin nhắn; quảng cáo bán hàng trên mạng Internet, mạng viễn thông nhưng không giao

Trong trường hợp của bạn thì có thể thấy bạn đã cấu thành tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định ở trên. Bởi lẽ, bạn có trách nhiệm biết người bạn này sử dụng máy POS để giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng giả của người nước ngoài mà còn để người bạn đó chuyển Tiền giao dịch thành công chuyển vào tài khoản của bạn và thực hiện ủy nhiệm chi vào tài khoản theo chỉ định của người bạn đó đồng thời nhận 30% tổng số tiền giao dịch từ người bạn của mình. Như vậy có thể thấy bạn chính là đồng phạm với người bạn này trong hành vi chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên ở tình huống trên bạn có nói là người bạn đó đã thực hiện nhiều giao dịch bằng thẻ giả để quẹt thẻ lấy tiền,vậy có thể hiểu là người bạn đó đã Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ. Trong đó, làm giả thẻ ngân hàng là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).

Từ những phân tích nêu trên thì ở trường hợp của bạn có thể sẽ bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân theo khoản 4 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 :

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Vì số tài sản chiếm đoạt được là 5 tỷ trong tổng số 12 tỷ cho nên thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên và gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội. Trong trường hợp này thì đồng thời với hình phạt chính người vi phạm sẽ phải chịu thêm hình phạt bổ sung theo khoản 5 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017Thông qua những thông tin bạn cung cấp thì có thể nhận thấy bạn sẽ phải chịu sự khởi tố hình sự theo điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 với vai trò đồng phạm.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

4. Các trường hợp chiếm đoạt tài sản như thế nào thì bị phạt tù ?

Thưa luật sư, xin hỏi: bố em muốn vay ngân hàng, nhưng em không đồng ý vì em nghĩ là sẽ không trả đc. Thế nhưng bố em nhất quyết không nghe. Vậy nếu bố em không trả đc thì em có bị liên quan gì không và có bị đi tù không ?
Cảm ơn!

Tư vấn:

Khoản nợ này là khoản nợ riêng của bố bạn, không liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bạn. Nếu bố bạn không trả được thì bố bạn sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, bạn không liên quan.

Thưa luật sư, xin hỏi: Chị dâu của tôi có lấy một điện thoại của người hàng xóm trị giá khoảng 6tr sau đó bị gia đình người mất điện thoại phát hiện và báo cho công an tiến hành điều tra trong quá trình điều tra chi tôi có ăn năng hối cải và thành thật nhận lỗi. Như vậy chị tội có bị phạt án tù không hay chỉ bị xử phạt hành chính thôi?

=> Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017quy định:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Thưa luật sư, xin hỏi: Nhà tôi bán nhôm kính tôi có một anh khách hàng mua hàng nhà tôi như thiếu tiền và kí sổ nợ nhà tôi 6triệu và hẹn 10 ngày sau sẽ trả đến nay đã được 3năm rồi mà vẫn không trả tôi đòi mãi không được mà nhà này cũng trung bình không ngèo cũng không thiếu thốn gì . Tôi có nên kiện ngươi này ra tòa không?

Bạn có thể khởi kiện để yêu cầu ngừoi đó thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Đối với trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì tòa án sẽ tiến hành kê biên tài sản của ngừoi đó để trả nợ cho bạn. Trường hợp có dấu hiệu lừa đảo, bỏ trốn thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

5. Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào Luật sư! Tôi có một vấn đề xin được luật sư tư vấn như sau: Em trai tôi 28 tuổi sau nhiều năm tích cóp được 1 số tiền, trong năm 2013 qua sự giới thiệu của chị Thủy 40 tuổi, em trai tôi quen với anh Công 56 tuổi.
Anh Công có một miếng đất 160m2 tại nội thành giá thị trường khoảng 10 tỷ đồng đang thế chấp trong ngân hàng và đã quá hạn 2 năm và đang bị ngân hàng thúc giục. Do anh Công trước từng quen và đưa hàng khô cho chị Thủy khi chị còn làm chủ 1 nhà hàng (khi quen e trai tôi hồi đầu năm 2013 thì chị Thủy đã phá sản và mất hết nhà hàng) đã đến nhờ chị Thủy cho vay tiền và rút sổ, biết em trai tôi có tiền nên chi Thủy dẫn anh Công đến gặp và nhờ em trai tôi giúp. Sau khi trao đổi thì em trai tôi đồng ý rút sổ cho anh Công với điều kiện vợ chồng anh Công phải ký công chứng chuyển nhượng tài sản đó sang tên cho em trai tôi trong thời gian từ 3 đến 5 năm để em trai tôi đi vay ngân hàng và vợ chồng anh Công phải chịu mức lãi suất đối với tiền vay của em trai tôi trong 3 tháng đầu là 15% và sau này là theo lãi suất ngân hàng BIDV, đóng lãi hàng tháng, nếu chậm lãi thì em trai tôi có quyền phát mại tài sản hay ...
Các bên đồng ý và công chứng chuyển nhượng xong xuôi với giá 400 triệu đồng (tại thời điểm đấy nhà anh Công chỉ vay 400 triệu) Em trai tôi cũng làm thêm 1 giấy nhận nợ cho gia đình anh Công ký với nội dung và số tiền như trên, chứ không làm giấy nhận tiền như mua bán bình thường. Trong quá trinh sau này anh Công cũng nhiều lần có vay thêm số tiền tổng cộng khoảng 400 triệu nữa, em trai tôi cũng đồng ý. đến năm 2014 gia đình anh Công cũng không thực hiện được như cam kết: không đóng lãi được cho em trai tôi ..mà chỉ đóng được có 3 tháng đầu và liên tục đòi vay thêm tiền..
Em trai tôi thời điểm ấy cũng đang khó khăn nhưng vẫn không thúc ép gì nhiều. Đến cuối năm 2014 em trai tôi do tin tưởng chỗ chị Thủy nên cho chị Thủy mượn sổ đỏ trên để đi vay ngân hàng cũng bằng hình thức chuyển nhượng tài sản mà không phải ký 1 giấy tờ cam kết gì. Chị Thủy sau khi vay được ngân hàng số tiền 6 tỷ đồng thì đúng đợt nghỉ tết .. Chị Thủy nói về quê rồi mất liên lạc luôn. Đến nay ngân hàng chỗ chị Thủy vay tiền đòi về thanh lý tài sản trên thì gia đình anh Công đòi kiện em trai tôi về hành vi "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" ...
Vậy mong luật sư cho tôi hỏi hành vi của em trai tôi như vậy có bị coi là Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không? và hành vi của chị Thủy như vậy em trai tôi có khởi kiện hay tố cáo được không?
Mong sớm nhận được câu trả lời của luật sư! Xin cảm ơn!

Tư vấn:

Căn cứ vào Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ta có thể phân tích hành vi khách quan của tội phạm này có những điểm chú ý sau:

Thứ nhất phải có việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản.

Thứ hai, sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ ba: nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản ( ý thức chiếm đoạt tài sản ) thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối, không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản nhưng lại dùng tài sản đó (tài sản nhận từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp) vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, ta có thể thấy: mặc dù em trai bạn có nhận chuyển giao tài sản từ người bị hại thông qua hợp đồng, nhưng lại hoàn toàn không có các hành vi dùng thủ đoạn gian dối, hay bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; hay sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không thể trả lại tài sản. Hiểu sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là như thế nào là một vấn đề rất phức tạp. Tuy nhiên căn cứ vào thực tế xét xử tại các Tòa án thì sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp được hiểu là sử dụng để thực hiện các tội phạm như hối lộ, buôn lậu, buôn bán ma túy, vũ khí quân dụng... Do đó, việc em bạn cho chị Thủy mượn sổ đỏ mảnh đất của vợ chồng anh Công không được coi là hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, hành vi của em bạn hoàn toàn không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xét về hành vi của chị Thủy: hành vi của chị Thủy bao gồm: nhận chuyển nhượng tài sản của người khác thông qua hợp đồng, sau đó bỏ trốn với ý thức không thanh toán nhằm chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn lên tới 6 tỷ đồng. Hành vi này hoàn toàn cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Em trai bạn có thể trình báo cơ quan công an nơi gần nhất về hành vi của chị Thủy.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?