- 1. Tổng quan về hủy việc kết hôn trái pháp luật
- 1.1. Định nghĩa và ý nghĩa pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật
- 1.2. Các trường hợp nào bị coi là kết hôn trái pháp luật?
- 1.3. Điều kiện để Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật
- 2. Quy trình thực hiện hủy việc kết hôn trái pháp luật
- 2.1. Ai có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật?
- Người bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn
- Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác
- Cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm:
- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
- 2.2. Các bước thực hiện thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật tại Tòa án
- 2.3. Mẫu đơn, biểu mẫu và hướng dẫn điền chi tiết
- 3. Hậu quả pháp lý sau khi bị hủy kết hôn trái pháp luật
- 3.1. Quan hệ giữa các bên sau khi bị hủy kết hôn
- 3.2. Quyền và nghĩa vụ đối với con chung
- 3.3. Giải quyết tài sản chung, nợ chung
- 4. Bảng so sánh: Hủy kết hôn trái pháp luật - Ly hôn - Không công nhận quan hệ vợ chồng
- 5. Xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, không đăng ký kết hôn
- 5.1 Xử lý việc đăng kỷ kết hôn không đúng thầm quyền
- 5.2 Xử lý trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- 5.3. Xử lý theo Luật Hình sự về kết hôn trái luật
- 6. Câu hỏi thường gặp về hủy kết hôn trái pháp luật
- 6.1. Có phải mọi trường hợp vi phạm đều bị hủy kết hôn?
- 6.2. Hủy kết hôn có được bồi thường thiệt hại không?
- 6.3. Hủy kết hôn trái pháp luật có ảnh hưởng đến quyền nuôi con không?
- 6.4. Có phải mọi trường hợp kết hôn trái pháp luật đều bị xử lý hình sự không?
- 6.5. Sau khi bị hủy kết hôn, có được kết hôn lại với người khác không?
- 6.6. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật?
1. Tổng quan về hủy việc kết hôn trái pháp luật
1.1. Định nghĩa và ý nghĩa pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật
Theo khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật là việc Tòa án tuyên bố vô hiệu hóa một quan hệ hôn nhân do vi phạm điều kiện kết hôn hoặc thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam, khiến cuộc hôn nhân đó không được pháp luật công nhận kể từ thời điểm kết hôn. Nói cách khác, hôn nhân không hợp pháp sẽ bị "xóa bỏ" hậu quả pháp lý như chưa từng tồn tại nếu bị Tòa án tuyên hủy.
Khi một cuộc hôn nhân bị hủy, nó được xem như chưa từng tồn tại về mặt pháp lý kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Điều này khác với ly hôn, vốn chỉ chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án/quyết định ly hôn có hiệu lực. Chế định này nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, bảo vệ quyền bình đẳng giới, bảo vệ sức khỏe sinh sản, và phòng chống các hủ tục lạc hậu. Giúp giải quyết các vấn đề về tài sản và con cái phát sinh từ quan hệ trái pháp luật, đảm bảo quyền lợi chính đáng, đặc biệt là của con cái và người phụ nữ yếu thế.
1.2. Các trường hợp nào bị coi là kết hôn trái pháp luật?
Theo Điều 5 và Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, một cuộc hôn nhân trái pháp luật nếu vi phạm một trong các điều kiện kết hôn hoặc thuộc trường hợp bị cấm kết hôn. Cụ thể:
- Không đủ tuổi kết hôn: Nam chưa đủ 20 tuổi hoặc nữ chưa đủ 18 tuổi. Đây là điều kiện về độ tuổi tối thiểu theo điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
- Không tự nguyện: Việc kết hôn không do nam và nữ tự nguyện quyết định, mà do bị cưỡng ép, lừa dối hoặc cản trở. Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nhấn mạnh tính tự nguyện.
Một bên bị mất năng lực hành vi dân sự: Điểm Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định người kết hôn không được bị mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm kết hôn.
Vi phạm các trường hợp cấm kết hôn (Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014):
- Kết hôn giả tạo: Kết hôn nhưng không nhằm mục đích xây dựng gia đình (ví dụ: kết hôn để có quốc tịch, định cư).
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn: Những hành vi này trực tiếp vi phạm nguyên tắc tự nguyện và độ tuổi kết hôn.
- Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ: Giữa cha, mẹ với con; ông, bà với cháu nội, cháu ngoại.
- Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời: Giữa những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.
- Kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi.
- Kết hôn giữa cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng.
- Kết hôn giữa những người cùng giới tính: Hiện tại, Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam không công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
- Yêu sách của cải trong kết hôn;
- Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
- Bạo lực gia đình;
- Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
1.3. Điều kiện để Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật
Để Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật, phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014): Yêu cầu này phải được nộp đến Tòa án có thẩm quyền (Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014).
- Việc kết hôn vi phạm một trong các trường hợp nêu tại mục 1.2 trên.
- Chưa được khắc phục tại thời điểm giải quyết: Tòa án sẽ không hủy việc kết hôn nếu vi phạm điều kiện kết hôn đã được khắc phục sau thời điểm kết hôn.
Như vậy, chỉ coi là kết hôn trái pháp luật khi hai bên nam nữ đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nhưng không tuân thủ một trong các điều kiện kết hôn luật định. Ví dụ như chưa đến tuổi kết hôn, hay có dấu hiệu cưỡng ép, cản trở kết hôn... Trường hợp hai bên nam nữ không đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn hoặc trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền cũng là việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kết hôn nhưng không được xác định là kết hôn trái pháp luật. Việc phân biệt này có ý nghĩa trong việc lựa chọn hình thức xử lý đối với từng trường hợp vi phạm.
2. Quy trình thực hiện hủy việc kết hôn trái pháp luật
2.1. Ai có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật?
Theo Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, những người sau đây có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật:
Người bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn
Theo Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, người bị cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn. Đây là chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất được pháp luật bảo vệ.
Người bị cưỡng ép kết hôn là người bị ép buộc phải kết hôn thông qua việc sử dụng vũ lực, đe dọa hoặc các hình thức cưỡng chế khác. Trong thực tiễn, chúng tôi thường gặp trường hợp gia đình ép buộc con em kết hôn theo ý muốn của họ.
Người bị lừa dối kết hôn là người bị che giấu thông tin quan trọng hoặc cung cấp thông tin sai lệch về danh tính, hoàn cảnh gia đình, tình trạng sức khỏe của bên kia. Ví dụ như che giấu việc đã có vợ/chồng, bệnh tật nghiêm trọng, hoặc giả mạo danh tính.
Việc xác định cưỡng ép hay lừa dối cần có căn cứ rõ ràng và được chứng minh trước Tòa án. Người bị hại có thể tự mình khởi kiện hoặc thông qua người đại diện theo pháp luật.
Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác
Pháp luật Việt Nam thực hiện chế độ một vợ một chồng, do đó vợ hoặc chồng hợp pháp có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của vợ/chồng mình với người khác.
Vợ/chồng hợp pháp là người đã đăng ký kết hôn hợp pháp với người vi phạm và việc kết hôn này vẫn còn hiệu lực pháp lý. Điều này có nghĩa là chưa bị hủy, chưa ly hôn, và người vợ/chồng chưa chết.
Việc kết hôn với người khác khi đã có vợ/chồng được coi là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc một vợ một chồng. Vợ/chồng hợp pháp có quyền lợi bị xâm phạm trực tiếp và có quyền yêu cầu bảo vệ.
Trong thực tiễn, chúng tôi thường gặp trường hợp vợ/chồng hợp pháp không biết về việc kết hôn trái pháp luật này. Khi phát hiện, họ hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật.
Cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm:
Pháp luật mở rộng quyền khởi kiện cho các cá nhân khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm do việc kết hôn trái pháp luật.
Con cái của các đương sự có thể bị ảnh hưởng về quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng, giáo dục khi cha mẹ kết hôn trái pháp luật. Họ có quyền yêu cầu hủy kết hôn để bảo vệ quyền lợi của mình.
Cha mẹ, anh chị em ruột của các đương sự có thể bị ảnh hưởng về quyền thừa kế, nghĩa vụ cấp dưỡng. Đặc biệt trong trường hợp kết hôn giữa những người có quan hệ họ hàng gần.
Các chủ nợ của đương sự có thể bị ảnh hưởng khi tài sản chung của vợ chồng thay đổi do việc kết hôn trái pháp luật. Họ có quyền yêu cầu hủy kết hôn để bảo vệ quyền đòi nợ.
Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Pháp luật cũng trao quyền cho một số cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật.
Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và duy trì trật tự xã hội trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật, đặc biệt là những trường hợp ảnh hưởng đến trẻ em, họ có quyền khởi kiện.
Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, đặc biệt trong những trường hợp liên quan đến việc cưỡng ép, lừa dối phụ nữ kết hôn. Đây là tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi phụ nữ.
Viện kiểm sát có quyền khởi kiện trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, khi việc kết hôn trái pháp luật vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội.
2.2. Các bước thực hiện thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật tại Tòa án
*Chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ cần thiết
Người yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cần chuẩn bị một bộ hồ sơ đầy đủ, bao gồm:
- Đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Đây là văn bản chính, trong đó trình bày rõ yêu cầu hủy, lý do hủy, và các thông tin liên quan đến quan hệ hôn nhân trái pháp luật.
- Bản sao có chứng thực Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân của người yêu cầu.
- Bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn (của cuộc hôn nhân bị yêu cầu hủy).
- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc kết hôn trái pháp luật: Đây là phần quan trọng nhất, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể:
- Tảo hôn: Giấy khai sinh, bản sao Căn cước hoặc hộ chiếu của các bên thể hiện độ tuổi chưa đủ theo quy định.
- Cưỡng ép, lừa dối: Đơn tố cáo, lời khai của nhân chứng, tin nhắn, ghi âm, hình ảnh chứng minh hành vi cưỡng ép, lừa dối.
- Kết hôn với người đang có vợ, có chồng: Giấy chứng nhận kết hôn của cuộc hôn nhân hợp pháp trước đó, hoặc các chứng cứ chứng minh việc chung sống như vợ chồng.
- Kết hôn giả tạo: Lời khai, chứng cứ về mục đích kết hôn không nhằm xây dựng gia đình (ví dụ: hợp đồng thỏa thuận để kết hôn lấy giấy tờ...).
- Kết hôn cận huyết/cùng giới: Chứng minh quan hệ huyết thống, giới tính.
- Bản sao có chứng thực Sổ hộ khẩu của người yêu cầu.
- Bản sao Giấy khai sinh của con (nếu có con chung và có yêu cầu giải quyết về con).
- Các giấy tờ khác liên quan đến tài sản (nếu có yêu cầu giải quyết tài sản).
*Quy trình nộp đơn và thụ lý vụ việc
- Xác định Tòa án có thẩm quyền:
- Tòa án nhân dân cấp huyện nơi một trong các bên của việc kết hôn trái pháp luật cư trú, làm việc.
- Nếu có yếu tố nước ngoài hoặc tài sản lớn, phức tạp, có thể thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
- Nộp hồ sơ: Nộp trực tiếp tại Phòng Tiếp nhận đơn của Tòa án, hoặc gửi qua đường bưu điện có bảo đảm.
- Thụ lý vụ việc:
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án sẽ phân công Thẩm phán giải quyết.
- Nếu hồ sơ hợp lệ, Thẩm phán sẽ thông báo cho người yêu cầu về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự.
- Sau khi người yêu cầu nộp tiền tạm ứng lệ phí và nộp lại biên lai cho Tòa án, Thẩm phán sẽ ra thông báo thụ lý vụ việc.
- Thời gian giải quyết và nhận kết quả
- Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Theo Điều 366 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, là 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ việc. Trong thời hạn này, Thẩm phán sẽ xem xét, xác minh các tình tiết, có thể yêu cầu bổ sung chứng cứ.
- Thời hạn mở phiên họp công khai: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định mở phiên họp, Tòa án sẽ mở phiên họp công khai giải quyết việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Diễn biến phiên họp: Tại phiên họp, Tòa án sẽ nghe trình bày của người yêu cầu, các bên liên quan, xem xét chứng cứ. Tòa án có thể tiến hành hòa giải để xem xét khả năng khắc phục vi phạm (ví dụ: tảo hôn nhưng đã đủ tuổi).
- Ra quyết định/bản án: Nếu xét thấy việc kết hôn thực sự trái pháp luật và không thể khắc phục được, Tòa án sẽ ra Quyết định/ bản án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Hiệu lực của bản án: Hủy việc kết hôn trái pháp luật có hiệu lực pháp luật ngay lập tức kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Nhận kết quả: Các bên sẽ nhận được Quyết định của Tòa án qua đường bưu điện hoặc đến nhận trực tiếp tại Tòa án.
2.3. Mẫu đơn, biểu mẫu và hướng dẫn điền chi tiết
Mẫu đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thường theo mẫu chung của Tòa án (có thể tham khảo Mẫu số 01-VDS ban hành kèm theo Nghị quyết 04/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn) tại đây "Mẫu đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật".
Hướng dẫn điền đơn:
- Phần Kính gửi: Ghi rõ Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện [Tên huyện], tỉnh [Tên tỉnh]).
- Thông tin người yêu cầu: Điền đầy đủ họ tên, ngày sinh, Căn cước công dân, nơi cư trú, số điện thoại liên hệ.
- Thông tin người bị yêu cầu hủy kết hôn (hai bên nam, nữ của cuộc hôn nhân trái pháp luật): Ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, nơi cư trú, thông tin CCCD/CMND.
- Nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Nêu rõ yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn giữa ông/bà [Tên Nam] và ông/bà [Tên Nữ] được đăng ký vào ngày... tháng... năm... tại... (ghi rõ thông tin Giấy chứng nhận kết hôn).
- Phân tích rõ lý do việc kết hôn là trái pháp luật: Căn cứ vào các điều khoản cụ thể của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (ví dụ: "do ông [Tên Nam] chưa đủ 20 tuổi tại thời điểm kết hôn," hoặc "do ông [Tên Nam] đang có vợ hợp pháp là bà [Tên Vợ Cũ]").
- Trình bày các chứng cứ kèm theo để chứng minh.
- Đề xuất giải quyết về con cái (nếu có): Nếu có con chung của cuộc hôn nhân trái pháp luật, đề xuất về quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
- Đề xuất giải quyết về tài sản (nếu có): Nêu rõ quan điểm về việc giải quyết tài sản đã hình thành trong quá trình chung sống (tài sản được giải quyết theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự về sở hữu chung).
- Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo: Liệt kê rõ ràng các giấy tờ đã nộp kèm.
- Ngày, tháng, năm làm đơn và chữ ký: Người yêu cầu ký và ghi rõ họ tên.
3. Hậu quả pháp lý sau khi bị hủy kết hôn trái pháp luật
3.1. Quan hệ giữa các bên sau khi bị hủy kết hôn
Theo Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy, quan hệ vợ chồng không được công nhận. Điều này có nghĩa là, về mặt pháp lý, hai người nam nữ đó được xem như chưa từng có quan hệ vợ chồng ngay từ đầu.
- Họ không phát sinh các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng như chung thủy, bình đẳng, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.
- Danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền nhân thân khác của họ vẫn được bảo vệ theo quy định chung của pháp luật.
3.2. Quyền và nghĩa vụ đối với con chung
Dù cuộc hôn nhân bị hủy, pháp luật Việt Nam vẫn bảo vệ tối đa quyền lợi của con cái. Khoản 2 Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: "Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn." Điều này có nghĩa là con chung vẫn được công nhận là con chung hợp pháp của hai bên. Quan hệ cha, mẹ, con vẫn được xác lập.
- Về quyền trực tiếp nuôi con: Tòa án sẽ xem xét giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dựa trên quyền lợi chính đáng của con về mọi mặt (điều kiện vật chất, tinh thần, học tập, môi trường sống), và nguyện vọng của con nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con.
- Về quyền thăm nom con: Bên không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
3.3. Giải quyết tài sản chung, nợ chung
Về nguyên tắc, khi hôn nhân bị hủy, không có tài sản chung của vợ chồng theo chế độ hôn nhân. Tuy nhiên, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật Hôn nhân và Gia đình (Khoản 3 Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), nghĩa là sẽ giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Nếu không thỏa thuận được, tài sản sẽ được giải quyết theo nguyên tắc sở hữu chung theo phần, dựa trên công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập và duy trì tài sản đó (tương tự như tài sản của những người chung sống mà không có quan hệ vợ chồng). Tòa án sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể để phân chia công bằng.
Các khoản nợ phát sinh trong quá trình chung sống cũng được giải quyết theo thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, sẽ giải quyết theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ liên đới hoặc nghĩa vụ riêng, tùy thuộc vào mục đích và tính chất của khoản nợ.
4. Bảng so sánh: Hủy kết hôn trái pháp luật - Ly hôn - Không công nhận quan hệ vợ chồng
Việc phân biệt rõ ràng ba khái niệm này là rất quan trọng để hiểu đúng bản chất pháp lý và hệ quả của từng trường hợp.
| Tiêu chí | Hủy kết hôn trái pháp luật | Ly hôn | Không công nhận quan hệ vợ chồng (Chung sống như vợ chồng) |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Tuyên bố không công nhận một cuộc hôn nhân đã được đăng ký nhưng vi phạm điều kiện luật định ngay từ đầu. | Chấm dứt một cuộc hôn nhân hợp pháp đã được xác lập theo đúng quy định của pháp luật. | Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà chưa hoặc không đăng ký kết hôn. Pháp luật không công nhận là hôn nhân. |
| Thời điểm có hiệu lực | Coi như chưa từng có hôn nhân kể từ thời điểm đăng ký. | Chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày Bản án/Quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. | Không có hiệu lực pháp lý của hôn nhân. Chỉ là quan hệ chung sống. |
| Căn cứ phát sinh | Vi phạm các điều kiện kết hôn (tuổi, tự nguyện, năng lực hành vi) hoặc trường hợp cấm kết hôn (một vợ một chồng, cận huyết...). | Mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài (ly hôn đơn phương) hoặc tự nguyện chấm dứt (ly hôn thuận tình). | Việc nam nữ tự ý chung sống với nhau mà không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (từ 01/01/2001 trở đi). |
| Cơ quan giải quyết | Tòa án. | Tòa án. | Tòa án (khi có tranh chấp về tài sản, con cái) nhưng không phải là "công nhận/hủy hôn nhân" mà là giải quyết hệ quả pháp lý của việc chung sống. |
| Con chung | Vẫn là con chung hợp pháp, quyền và nghĩa vụ cha mẹ con giải quyết như khi ly hôn. | Vẫn là con chung hợp pháp, quyền và nghĩa vụ cha mẹ con được giải quyết. | Vẫn là con chung hợp pháp, quyền và nghĩa vụ cha mẹ con được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. |
| Tài sản | Giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của Bộ luật Dân sự về sở hữu chung (không phải tài sản chung vợ chồng). | Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình (nguyên tắc bình đẳng, có tính đến công sức đóng góp...). | Giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của Bộ luật Dân sự về sở hữu chung (không phải tài sản chung vợ chồng). |
| Trách nhiệm pháp lý | Có thể bị xử phạt hành chính, hình sự nếu vi phạm các tội về hôn nhân và gia đình. | Không bị xử lý trách nhiệm pháp lý riêng biệt về việc ly hôn (trừ trường hợp vi phạm quyền và nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên kia). | Có thể bị xử phạt hành chính, hình sự nếu vi phạm chế độ một vợ một chồng. |
| Nộp tạm ứng án phí/lệ phí | Lệ phí giải quyết việc dân sự. | Án phí giải quyết việc dân sự (có thể có giá ngạch nếu tranh chấp tài sản). | Án phí giải quyết tranh chấp tài sản nếu có, không có án phí hôn nhân. |
5. Xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, không đăng ký kết hôn
5.1 Xử lý việc đăng kỷ kết hôn không đúng thầm quyền
Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền là việc đăng ký kết hôn không được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Ví dụ, ủy ban nhân dân xã A thực hiện việc đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ nhưng cả hai bên nam, nữ đều không cư trú tại xã A.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền được xử lý như sau: Khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn trước (Điều 13).
Như vậy, khác với hủy việc kết hôn trái pháp luật, cơ quan có thẩm quyền xử lý việc kết hôn không đúng thẩm quyền không phải là Tòa án nhân dân. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn sẽ thu hồi lại Giấy chứng nhận kết hôn cấp không đúng thẩm quyền. Để xử lý linh hoạt đối với việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, việc quy định yêu cầu hai bên kết hôn thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cần thiết. Quy định này bảo vệ được quyền, lợi ích cho người kết hôn. Tuy nhiên, nếu đăng ký kết hôn lại mà quan hệ hôn nhân lại được xác lập kể từ lần kết hôn trước theo như quy định tại Điều 13 sẽ nảy sinh điểm bất cập. Giả sử, người kết hôn không chỉ đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền mà còn vi phạm điều kiện kết hôn thì khi đăng ký kết hôn lại, quan hệ hôn nhân được thừa nhận kể từ lần đăng ký kết hôn trước là không phù hợp. Bởi vì như vậy cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận quan hệ hôn nhân ngay cả khi họ vi phạm điều kiện kết hôn. Khắc phục điểm mâu thuẫn này, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 6/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình chỉ rõ: Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăhg ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 của Luật hôn nhân và gia đình. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 cùa Luật hôn nhân và gia đình (Điểm 3 Điều 3).
Như vậy, có thể thấy hướng dẫn trên đã khắc phục được điểm mâu thuẫn ưong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc xử lý đối với trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, hướng dẫn này lại bộc lộ điểm không phù hợp về hình thức bởi vì nếu áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP để giải quyết việc kết hôn không đúng thẩm quyền thì Thông tư này đã có hiệu lực cao hơn cả Luật Hôn nhân và gia đình.
5.2 Xử lý trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Việc kết hôn không được đãng ký theo quy định của pháp luật thì không có giá trị pháp lý. Vì vậy, đối với các trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn sẽ được giải quyết như sau:
- Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
- Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Như vậy, trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nếu có yêu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản và con chung thì áp dụng các Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 để giải quyết. Theo quy định này, việc giải quyết vấn đề con chung và tài sản của hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng cũng giống như trường hợp hủy việc kết hôn trái pháp luật. Bởi vì, xét về bản chất hai bên nam nữ trong hai trường hợp này đều không được thừa nhận là vợ chồng.
- Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng
ký kết hôn trước ngày 01/01/2015 thì áp dụng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành, áp dụng Luật này để giải quyết.
5.3. Xử lý theo Luật Hình sự về kết hôn trái luật
Xử lý theo Luật Hình sự không chỉ được đặt ra đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật mà còn đặt ra đối với cả những trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn vi phạm các điều cấm. Tuy nhiên, việc xử lý hình sự chỉ được đặt ra khi hành vi vi phạm cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Theo quy định tại Chương XV Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,-các tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình bao gồm:
- Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Điều 181);
- Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182);
- Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183);
- Tội loạn luân (Điều 184).
Nhìn chung, các tội trên đều thuộc nhóm tội ít nghiêm trọng. Hình phạt được áp dụng đối với các tội này không cao. Hình phạt tù áp dụng cho các tội này dao động trong khoảng 2 đến 5 năm (Mức cao nhất của khung hỉnh phạt áp dụng đối với tội loạn luân là 5 năm tù. Đây cũng là mức hình phạt cao , nhất đối với nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình). Tuy nhiên, việc quy định các tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước ta trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng.
Như vậy, nếu hành vi vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn cấu thành tội phạm được nêu trên thì việc kết hôn trái pháp luật không chỉ bị xử hủy mà người kết hôn có thể còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
6. Câu hỏi thường gặp về hủy kết hôn trái pháp luật
6.1. Có phải mọi trường hợp vi phạm đều bị hủy kết hôn?
Trả lời: Không.
Tòa án sẽ không hủy việc kết hôn trái pháp luật nếu tại thời điểm Tòa án giải quyết, vi phạm điều kiện kết hôn đã được khắc phục. Ví dụ: trường hợp tảo hôn (kết hôn khi chưa đủ tuổi) nhưng đến khi Tòa án xem xét thì cả hai bên đều đã đạt đến độ tuổi kết hôn hợp pháp (nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi) và không vi phạm các điều cấm khác thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (Khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014).
6.2. Hủy kết hôn có được bồi thường thiệt hại không?
Trả lời: Có thể có.
Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 không quy định cụ thể về việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật, nhưng theo Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, các quyền và nghĩa vụ của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (trong đó có cả trường hợp hôn nhân bị hủy) sẽ được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự. Nếu hành vi kết hôn trái pháp luật gây thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc tài sản của bên còn lại hoặc người thứ ba, người có lỗi có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
6.3. Hủy kết hôn trái pháp luật có ảnh hưởng đến quyền nuôi con không?
Trả lời: Không ảnh hưởng đến quan hệ cha mẹ con.
Mặc dù hôn nhân bị hủy bỏ, quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung vẫn được giải quyết như trường hợp ly hôn (Khoản 2 Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014). Điều này có nghĩa là con cái vẫn được công nhận là con hợp pháp của cả hai bên, và các vấn đề về quyền trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, quyền thăm nom con sẽ được Tòa án giải quyết dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con.
6.4. Có phải mọi trường hợp kết hôn trái pháp luật đều bị xử lý hình sự không?
Trả lời: Không.
Chỉ những trường hợp vi phạm nghiêm trọng và có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) mới bị xử lý hình sự. Các trường hợp còn lại có thể chỉ bị xử lý hành chính. Ví dụ, hành vi tảo hôn chỉ bị xử lý hình sự nếu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Tương tự, vi phạm chế độ một vợ một chồng chỉ bị xử lý hình sự khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm.
6.5. Sau khi bị hủy kết hôn, có được kết hôn lại với người khác không?
Trả lời: Có.
Sau khi Quyết định/Bản án hủy việc kết hôn trái pháp luật của Tòa án có hiệu lực pháp luật, các bên được coi là chưa từng có quan hệ vợ chồng. Do đó, họ hoàn toàn có quyền kết hôn với người khác (hoặc thậm chí kết hôn lại với chính người cũ nếu các vi phạm đã được khắc phục và họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn hợp pháp).
6.6. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật?
Trả lời: Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật. Vì vậy, về nguyên tắc, Tòa án chỉ giải quyết khi có đơn khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định có quyền khởi kiện đối với việc kết hôn trái pháp luật. Theo quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 thì những người có quyền yêu cầu khởi kiện bao gồm:
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn;
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người kết hôn trái pháp luật;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
Như vậy, diện những người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật rất rộng. Người có quyền yêu cầu không chỉ là cá nhân mà còn là các cơ quan, tổ chức thực hiện quyền yêu cầu với tư cách là người phản biện xã hội, phát hiện và yêu cầu xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về kết hôn. Quy định như vậy phù hợp với thực tế, phòng ngừa tình trạng kết hôn trái pháp luật. Bởi vì, nhiều người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật sẽ hạn chế được tình trạng che giấu hành vi vi phạm, góp phần phòng ngừa vi phạm, bảo vệ quyên và lợi ích của cá nhân, gia đình và xã hội.
Để được tư vấn pháp lý hôn nhân gia đình, quý khách hàng có thể liên hệ với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp tại Luật Minh Khuê gọi ngay 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Luật Minh Khuê lắng nghe và giải đáp.
Trân trọng./.