NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Khái niệm và bản chất của chế độ giam giữ:

1.1 Khái niệm chế độ giam giữ

Chế độ giam giữ là một trật tự pháp luật quy định nhằm phân hoá về mức độ quản chế giam giữ đối với các phạm nhân trong các trại giam trên cơ sở tính chất tội phạm và mức án của người chấp hành hình phạt cũng như thái độ chấp hành hình phạt của phạm nhân trong các trại giam.

Từ khái niệm đó ta thấy, chế độ giam giữ có những dặc điểm sau:

  • Chế độ giam giữ là một trật tự được xác lập bỗi những quy phạm pháp luật. Nhờ sự quy định chặt chẽ đó mà tránh được sự tùy tiện trong giam giữ. Không ai có thể tự ý đặt ra các quy định về giam giữ nhằm hạn chê hoặc xâm phạm đến các quyền của con người trái với quy định của pháp luật;
  • Chế độ giam giữ trong trại giam của Nhà nước ta bảo đảm sự phân hoá về mức độ quản chế và những yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục cải tạo người phạm tội. Mức độ phân hoá đó được tính toán trên cơ sở mức độ phạm tội, tính chất lỗi, khả năng tiếp nhận sự tác động giáo dục của người phạm tội;
  • Chế độ giam giữ còn phản ánh và bảo đảm dể thực hiện tốt nhất bản chất, mục đích của hình phạt nhằm không chỉ trừng trị mà còn giáo dục cải tạo người phạm tội, giúp họ hoàn lương.

1.2 Bản chất của chế độ giam giữ

Chế độ giam giữ xác lập một trật tự mang tính cưỡng chế, trừng trị đối với người phạm tội. BLHS nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quý định hình phạt tù là biện pháp cưõng chế hình sự nghiêm khắc mà bản chất của nó là tước quyền tự do của người phạm tội trong một thời gian nhất định từ 3 tháng đến 20 năm (đối với tù có thời hạn) hoặc tước quyền tự do của người phạm tội một cách vĩnh viễn (tù chung thân). Bộ luật quy định việc thi hành hình phạt được tiến hặnh tại trại giam. Tuy nhiên, điều kiện cụ thể và trật tự thực hiện các biện pháp quản chế cũng như các tác động giáo dục cải tạo đối với các phạm nhân cần tiếp tục được phân hoá để bảo đảm hiện thực hoá nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt; đồng thời bảo đảm tốì đa điều kiện để đạt được mục đích của hình phạt.

Chế độ giam giữ xác lập những thứ bậc, mức độ đối xử có sự khác biệt nhất định trên cơ sở sự phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội, để không chỉ trừng trị, giáo dục người phạm tội mà còn thực hành một chế độ quản chế nghiêm khắc nhằm phòng ngừa ngăn chặn sự chông phá trong trại, ngăn chặn phạm tội mới; phòng ngừa ngăn chặn sự trốn trại và các biểu hiện trốn tránh cải tạo khác của phạm nhân.

Chế độ giam giữ là biểu hiện cụ thể của sự phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt mà Toà án đã tuyên trong hiện thực.

Xu hướng phân hoá trong chế độ giam giữ có mục đích thực hiện sự phòng ngừa tích cực đối với người bị giam giữ, răn đe, ngăn chặn họ phạm tội mối. Chế độ giam giữ không chỉ phản ánh sự khác biệt về tính chất nghiêm khắc của từng loại hình phạt đã tuyên, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và người phạm tội đã thực hiện mà nó còn thể hiện rõ mức độ cần thiết phải tăng cưòng quản chế, tăng cường sự giám sát của cơ quan bảo vệ pháp luật đối với những người có xu hương trốn tránh lao động cải tạo, hoặc có xu hướng tiếp tục phạm tội.

Để đạt được mục đích giáo dục cải tạo phạm nhân, giúp họ trở lại hoàn lương, thành người có ích cho xã hội, hoạt động quản chế giam giữ và tổ chức giáo dục, cải tạo phải được tiến hành trên nguyên tắc phân hoá các đôi tượng này.

Người chấp hành hình phạt tù là người chưa thành niên hoặc là nữ được giữ ở khu vực riêng trong trại giam theo chế độ quản lý, giáo dục, lao động, học tập và sinh hoạt phù hợp với giới tính, lứa tuổi.

Căn cứ các điều 10, 11, 12,13 Pháp lệnh thi hành án phạt tù , chế độ giam giữ được phân hoá bởi hệ thông trại giam với 3 loại trại:

Trại giam loại I là nơi giam giữ, giáo dục những người bị kết án phạt tù về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; người bị kết án tù thuộc loại tái phạm nguy hiểm; người bị kết án tù 20 năm, tù chung thân (Điều 11 Pháp lệnh thi hành án phạt tù );

Trại giam loại II là nơi giam giữ, giáo dục những người bị kết án phạt tù về các tội khác xâm phạm an ninh quốc gia (Mục B Chương I Phần các tội phạm của BLHS năm 1985); người bị kết án tù về tội trên 5 năm đến 20 năm (Điều 12 Pháp lệnh thi hành án phạt tù );

Trại giam loại III là nơi giam giữ, giáo dục những người bị kết án phạt tù không thuộc các trường hợp quy định tại các điều 11, 12 Pháp lệnh thi hành án phạt tù ; những người bị kết án tù là người chưa thành niên (Điều 13 Pháp lệnh thi hành án phạt tù ).

2. Khái niệm và bản chất của thực hành chế độ giam giữ:

Thực hành chế độ giam giữ là việc các cơ quan và cán bộ của Cơ quan thi hành án phạt tù áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù đối với những người đang chấp hành án trong trại nhằm giáo dục, cải tạo họ thành người lương thiện, có ích cho xã hội và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của phạm nhân theo pháp luật quy định.

Căn cứ vào Điều 3 Pháp lệnh thi hành án phạt tù thì: Trong thời gian chấp hành hình .phạt, người bị kết án tù phải bị giam giữ, phải lao động và học tập theo quy định của pháp luật. Bị giam giữ là một quy định nhằm hạn chế quyền tự do cá nhân của người phạm tội. Ngoài ý nghĩa trừng trị của hình phạt, việc giam giữ còn nhằm bảo đảm điều kiện để phạm nhân không trốh tránh việc cải tạo, đồng thời tưốc đi điều kiện để người đó có thể phạm tội.

Luật pháp của chúng ta vẫn luôn nhất quán với tư tưởng tinh thần nhân đạo cao cả của chế độ xã hội mới. Chế độ giam giữ dẫu có sự phân hoá cao nhưng vẫn bảo đảm: Nghiêm cấm mọi hình thức nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với người đang chấp hành hình phạt tù (Điều 4 Pháp lệnh thi hành án phạt tù).

Bản chất của việc thực hành chế độ giam giữ là việc thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội. Khi thực hành chế độ giam giữ, trại giam với tư cách là Cơ quan thi hành án phạt tù tổ chức thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật liên quan đến chế độ giam giữ để thực hiện sự trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội, đồng thời tổ chức thực hành những tác động giáo dục để cải tạo người phạm tội, buộc họ phải lao động cưỡng bức và chấp hành những hạn chế mà pháp luật đã quy định đối với người đã cồ-hành vi phạm tội. Mặt khác, thực hành chế độ giam giữ cũng nhằm bảo đảm cho phạm nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các điều 11, 12, 13 Pháp lệnh thi hành án phạt tù, người bị kết án tù không chỉ được đưa vào một trại phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà họ đã gây ra mà còn được bảo đảm các điều kiện chăm sóc khi ốm đau, bệnh tật. Điều 14 Pháp lệnh thi hành án phạt tù quy định: “Trại giam có các nhà giam. Nhà giam phải đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường theo quy định của Chính phủ”.

Mặt khác, chế độ giam giữ trong các trại giam cũng bảo đảm tinh thần hết sức nghiêm khắc trừng trị đối với những người cố tình không chịu học tập, cải tạo. Vì thế, Điều 14 nói trên cũng quy định: “Trại giam có buồng kỷ luật là nơi giam người đang chấp hành hình phạt tù vi phạm quy chế trại giam”. Khi phạm nhân vi phạm kỷ luật thì tuỳ theo mức độ vi phạm và lỗi của phạm nhân, Giám thị trại giam theo đề nghị của cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục, quản chế ra quyết định đưa phạm nhân vào nhà kỷ luật để thi hành kỷ luật. Nhà kỷ luật thực hiện một mức độ quản chế nghiêm khắc hơn đổì với phạm nhân, do người đó vi phạm quy chế trại giam.

Khoản 4 Điều 260 BLTTHS quy định: “Trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù trốn

khỏi trại giam thì cơ quan Công an ra qụyết định truy nã”. Phạm nhân trốn trại đã vi phạm quy chế trặi giam, vi phạm pháp luật. Ngay sau khi bị bắt lại, người đó phải chịu sự kỷ luật của trại và bị đưa vào nhà kỷ luật. Nếu hành vi mang đủ dấu hiệu tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Những nội dung chính của quá trình thực hành chế độ giam giữ:

Nội dung chỉnh của quá trình thực hành chế độ giam giữ:

  • Tiếp nhận và đưa phạm nhân vào trại;
  • Phân bố phạm nhân theo các đơn vị giam giữ của trại;
  • Áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn buồng giam, nhà giam;
  • Thực hiện các biện pháp cần thiết để quản chế phạm nhân tại nơi giam giữ, phòng chống phá trốn trại;
  • Tác động cảm hoá, giáo dục phạm nhân;
  • Ap dụng các biện pháp giáo dục bắt buộc; lao động bắt buộc để cải tạo;
  • Tiến hành vũ trang canh gác bảo vệ trại và giám sát các hoạt động sinh hoạt, ăn, ở, lao động, học tập của phạm nhân;
  • Thi hành kỷ luật đối với phạm nhân khi họ vi phạm quy chế trại giam;
  • Áp dụng các biện pháp trấn áp cần thiết khi có hành vi của phạm nhân chông phá, trốn trại;

4. Địa vị pháp lý của phạm nhân trong các trại giam:

Pháp luật quy định một tập hợp các quyền và nghĩa vụ nhất định của phạm nhân đang thụ hình cải tạo trong trại giam. Ngoài những quyền, lợi ích cơ bản và nghĩa vụ như đã nêu ở trên, pháp luật quy định những điều kiện nhất định để khuyến khích phạm nhân phấn đấu cải tạo tốt.

Điều 58 BLHS quy định: “Người bị kết án phạt tù, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của Cơ quan thi hành án phạt tù, Toà án có thê theo quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt”.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xem xét giảm lần đầu là 1/3 thời hạn hình phạt tù từ 30 năm trở xuống và 12 năm đối với tù chung thân.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 58 BLHS, một người có thể được giảm nhiều lần nhưng phải bảo đảm chấp hành được 1/2 mức hình phạt đã tuyên. Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.

Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại phạm tội mổi nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì Toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được 2/3 mức hình phạt chung hoặc 20 năm nếu là tù chung thân.

Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 59 BLHS, người bị kết án còn có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp đặc biệt. Nếu người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Toà án có thể xét giảm vào thời gian sóm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 58 BLHS. Với quy định tại Điều này, nhà làm luật tiếp tục thể hiện một chính sách khoan hồng nhân đạo và nhất quán vì mục đích giáo dục cải tạo, cứu người.

Pháp luật quy định, người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khọản 1 Điều 61 BLHS thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Đối với người chưa thành niên chấp hành hình phạt tú, pháp luật có những quy định riêng thể hiện một chính sách hết sức nhân đạo nhằm giáo dục, cứu vớt họ, không để những tác động trừng trị ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của họ. Ngay trong chế độ thi hành hình phạt tù, nhà lập pháp cũng đã quy định điều kiện thuận lợi nhất cho việc giáo dục cải tạo, và ít chịu những tác động trừng trị nhất đổỉ với loại đôi tượng này.

Căn cứ vào Điều 74 BLHS, người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn. Pháp lệnh thi hành án phạt tù cũng quy định, người chưa thành niên phạm tội được đưa vào loại trại giam có mức độ quản chế ít nghiêm khắc nhất. Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh này, trại giam loại III là nơi giam giữ, giáo dục người bị kết án tù là người chưa thành niên.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê