1.Khái niệm về "nhân"

Theo quan niệm về đạo đức thời cổ đại, thì nhân có nội dung rất rộng. Nghĩa đen của nhân biểu lộ bản chất của quan mang tính tương thần, tương ái giữa người với người; là lòng yêu thương con người, vì con người (thương người như thể thương thân). Ngoài ra, nhấn còn hiểu theo nghĩa rộng như cung kính, khoan hậu, giữ tín nghĩa, làm ơn cho người khác, giúp đỡ người khác, nói đi đôi với làm. Như vậy, nhấn biểu lộ tình cảm, tầm lý, yếu tố nội tầm của con người và được thể hiện trong các quan hệ xã hội theo ý thức tự giác của con người. Nhân còn hàm chứa khuynh hướng trọng dân, đòi hỏi luật sư trong hoạt động của mình phải có tư tưởng khoan dung, nhân ái và ngăn chặn những hành vi thiếu công bằng, trái đạo đức xã hội và phong tục tốt đẹp của nhân dân. Tuy nhiên, việc thực hiện được bản chất của nhân ái hoàn toàn phụ thuộc vào con người - bản thân luật sư.

Theo quan niệm truyền thống thì nhân thuộc về phạm trù của triết học. Theo trường phái Nho học, thì nhân nhằm để chỉ bản tính nội tại của con người. Bản chất của nhân thuộc về thiện tâm và ảnh hưởng trực tiếp đến tính cách và tư duy của luật sư. Con người là một sinh vật hoàn thiện nhất của tạo hóa, do vậy con người luôn chủ động thể hiện ý chí của mình. Hay nói cách khác, con người khi thể hiện các hành vi theo ý chí và nguyện vọng của mình, thì tính nhân bản của con người luôn được biểu hiện rõ ra bên ngoài dưới hình thức khách quan, mà người bình thường khác cũng có thể nhận biết, đánh giá. Như vậy, xét về mối liên hệ và bản chất giữa tâm và nhân thì hai yếu tố này không thể tách rời nhau, chúng có mối quan hệ ràng buộc, tác động lẫn nhau hoặc làm tăng lên hoặc làm giảm đi cái bản thể của con người. Nhân còn thuộc về tâm lý của con người và con người thể hiện bằng ý chí định hướng của mình để làm điều thiện, điều nhân nghĩa vì người khác và không làm hại đến người khác.

2. Nhân và đạo đức nghề nghiệp

Nhân là nói về tính nhân bản con người nói chung và của luật sư nói riêng. Luật sư phải có tình yêu nhân loại, quý trọng cuộc sống của con người và vì con người. Luật sư phải hiểu vai trò và vị trí của mình trong quan hệ xã hội, yêu quý con người là tôn trọng sự công bằng xã hội, đấu tranh với những biểu hiện không vì lẽ phải và không vì các lợi ích chính đáng của con người. Tính nhân bản của luật sư được thể hiện ở trách nhiệm nghề nghiệp của mình và đấu tranh, bảo vệ lẽ công bằng trong mọi hoàn cảnh đối với mọi loại khách hàng của mình. Luật sư phải biết tỉnh táo để suy xét sự kiện khách quan trong mọi trường hợp và không bị hoàn cảnh lôi cuốn, mà làm lệch lạc bản chất của sự kiện. Luật sư phải có bản lĩnh không bị uy vũ, sức mạnh quyền lực và tiền tài chi phối. Yếu tố tầm lý của con người sẽ vững vàng hơn, tự chủ và tự tin hơn, ngôn ngữ có sức thuyết phục hơn chỉ tồn tại trong thực tại là luật có tôn trọng lẽ phải và sự thật khách quan hay không. Đức tính tôn trọng sự thật của luật sư phản ánh tính trung thực và nhân bản của luật

Cho dù bất kỳ trong hoàn cảnh nào thì luật sư cũng không được rời bỏ sự thật và không được ngụy biện để “đánh tráo khái niệm”. Hành vi “đánh tráo khái niệm” trước hết bộc lộ rõ nhân cách của luật sư và những ý đổ mà luật sư mong đạt được là hệ quả của những sự tính toán không dựa trên hiện thực khách quan. Tuy nhiên, mọi sự ngụy biện của luật sư người khác đểu sẽ nhận ra, nhưng trong một chừng mực nhất định cũng có tác động đến yếu tố tâm lý, lòng tin của người khác vào những vấn để mình đang biện luận, bảo vệ. Nhân thể hiện rõ việc tôn trọng sự thật và đấu tranh vì lẽ phải, vì sự thật. Nhân trái lại với bất nhân là hành vi làm hại người khác, trái lẽ phải, trái với sự thật hiển nhiên. Lẽ phải đã hiển nhiên nhưng cố ý làm trái đi, và cố ý làm sai sự thật, phủ nhận sự thật nhằm mưu lợi riêng cho mình mà không quan tâm đến hậu quả do hành vi của mình gây ra.

Nói về nhân là nói đến bản thể của luật sư. Luật sư muốn thể hiện được nhân tâm của mình thì trước hết phải biết vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để diễn giải ngôn ngữ đạt ở tầm hùng biện. Thủ thuật diễn giải và quy nạp một sự kiện khách quan để có căn cứ suy đoán logic và cần phải quan tâm đến trực giác của mình. Trực giác là phương tiện để chuyển tải những sự kiện khách quan đang diễn ra và tác động vào bán cầu đại não, bằng vốn tri thức và trải nghiệm của luật sư sẽ biến các sự kiện khách quan đó thành tư liệu để lựa chọn ngôn ngữ và cách thức thể hiện ngôn ngữ trong thuật hùng biện. Phương pháp nhận thức biện chứng này có sự tác động trực tiếp đến phải xạ có điều kiện của luật sư và theo đó ngôn ngữ của luật sư sẽ thê’ hiện được hay hơn, chính xác hơn và có căn cứ hơn thông qua phân tích lý trí. Luật sư sẽ làm chủ được tư duy và ý chí của mình trong việc lập luận để bảo vệ thần chủ, chống lại đối phương một cách hữu hiệu. Từ phương thức của sự nhận thức, luật sư chắc chắn sẽ xác định và lĩnh hội được những tư tưởng quan trọng để tự ý thức được mình sẽ trình bày vấn đề bắt đẩu từ đầu, như thế nào và ngôn ngữ sẽ ra sao để thuyết phục được đối phương và bảo vệ chắc chắn quan điểm của mình, đồng thời “cải tạo” được những tư duy sai lệch của người khác.

3. Khái niệm "tâm"

Trước hết, “tâm” thuộc về phạm trù triết học phương Đông, nhằm để chỉ ý thức chủ quan của con người. Theo quan niệm Phật giáo, thi tâm là chủ của mọi hoạt động tinh thẩn của con người. Do vậy, tâm hàm chứa hai yếu tố, thứ nhất là năng lực biệt lập trong suy nghĩ của chủ thể và thứ hai, tầm để phân biệt đối với các hiện tượng khách quan khác. Ngoài đạo Phật, thi triết lý của Nho giáo về tầm luôn luôn được coi trọng, với ý nghĩa chủ đạo là ý thức đạo đức, là khí quan tư duy, có thể tri giác, suy nghĩ, có phẩm chất đạo đức, có thể chỉ huy hành động của con người. Nhà nho Vương Chu Phi đã xác định tâm theo cách xác định chủ thể và khách thể của nhận thức. Ông cho rằng nếu không có cảm quan tiếp xúc với thế giới quan khác thì tâm tự nó không thể tư duy được: “Vớ mục nhi tấm bất biện sắc, vô nhĩ nhi tàm bắt tư thanh, vô thủ túc nhi tấm vô năng sử. Nhất quan thất dụng, nhi tâm chi linh dĩ phế (Không có mắt thì tâm không phân biệt được sắc màu, không có tai thì tâm không phân biệt được âm thanh, không có tay chân thì tâm không thể sai khiến. Một khí quan mất công năng thì cái linh của tâm cũng bị phế bỏ).

Theo Mạnh Tử, tâm được hiểu là lương tâm của con người. Con người mà có lương tâm thì mới biết điều nhân, điều nghĩa, hiểu được lẽ trái, lẽ phải. Người có lương tâm là người sở hữu cả lương nầng và lương tri. Điều này được hiểu rằng ở con người có lương năng và lương tri là người minh tuệ, hiểu biết sâu rộng và tự mình tu thân, rèn luyện mà có. Tuân Tử và Khổng Tử đều theo một lý tưởng, chủ ý lẩy sự giữ cái bản nguyên cho hoàn toàn để có cái minh giác linh diệu mà ứng với vạn sự cho hợp với đạo trung.

Tác giả đã căn cứ vào những quan niệm của Nho giáo về chữ tâm để thấy được các bậc nho học coi trọng chữ tâm như thế nào, và qua đó khẳng định tầm quan trọng của tâm trong thuật hùng biện. Nội dung của tâm không có gì khác là tấm lòng của người hành nghề luật sư. Trên đời này, bất cứ làm một việc gì cho dù lớn hay nhỏ thì người thực hiện việc đó trước hết phải tận tâm, tận lực và có tấm lòng yêu thương con người (thương người như thể thương thân). Nếu làm việc nào đó mà không tận tâm, không có tấm lòng thì hoặc không thể thành công, hoặc đạt kết quả không mỹ mãn. Người có tâm, có đức thì khi trình bày một vấn đê' nào đó đều rất sáng rõ và có sức hấp dẫn đối với người nghe. Thuật hùng biện của luật sư rất cần tâm của luật sư.

4. Tấm lòng

Khi đề cập đến “tấm lòng” là đề cập đến con người có tâm, có đức và có nghĩa. Người có tấm lòng là người có những suy nghĩ trong sáng, không một chút dã tâm, mưu mô nhằm làm hại người khác. Tấm lòng còn thể hiện ở trách nhiệm chuyên môn của luật sư, vì con người và yêu con người, tôn trọng lẽ phải, căm ghét sự xảo trá, cơ hội, lợi dụng và nịnh bợ, “phù thịnh, khinh suy” của kẻ tiểu nhân. Tấm lòng của con người nói chung được hiểu theo nghĩa đẹp. Tuy nhiên, tấm lòng của mỗi cá nhân khác nhau thì hàm chứa những nội dung, phạm vi, quy mô và tầm bao quát cũng rất khác nhau.

Nhận dạng được những mặt trái của tính cách và tầm địa của con người, luật sư có vốn sống và sẽ chủ động trong việc thể hiện thuật hùng biện của mình. Khi tấm lòng của luật sư sáng trong, tình yêu con người và cảm thông với hoàn cảnh của con người, là động lực để luật sư tự tin hơn khi lập luận. Nội dung của lập luận sẽ cụ thể, rõ ràng và thoáng đạt hơn vì không có một uẩn khúc nào trong tấm lòng của luật sư. Yêu con người, yêu lẽ phải và tôn trọng lẽ công bằng đã là chỗ dựa quan trọng cho luật sư thể hiện bản lĩnh của mình có logic và có trình tự vì không bị các trở lực không trong sáng khác cản trở đến lập luận của luật sư. Sức mạnh của tấm lòng đã tạo điều kiện cho luật sư thể hiện hết lý lẽ để bảo vệ lẽ phải, vì con người và vì sự thật. Sức mạnh của ngôn từ xuất phát từ yếu tố tâm lý, từ lòng tin, từ lẽ phải cho nên luật sư sẽ dùng ngôn ngữ thể hiện khả năng hùng biện của mình. Sức thuyết phục không chỉ đơn thuần là ngôn ngữ, mà còn là tấm lòng - đóng vai trò hạt nhân và được xem như một chất liệu quan trọng tạo ra ngôn ngữ của luật sư. Khi tấm lòng con người trong sáng thì ngôn ngữ sẽ thật và có sức thuyết phục hơn. Vì vậy, tấm lòng của luật sư được coi là thành tố quan trọng tạo thành sức mạnh nội tâm có tác dụng thúc đẩy cho ngôn ngữ phát huy được tác dụng khi thể hiện. Bạn thử xác định mà xem, khi tâm hồn ta thanh thản và sáng trong thì cách thể hiện cử chỉ, ngôn ngữ cũng theo đó và tự nhiên, có sức lôi cuốn người nghe. Vì khi biện luận, hướng và mục đích hùng biện đã được xác định rõ ràng, tư duy không bị phần tán, tâm lý không phải đê' phòng vì những vấn đề không có, mà cố gắng để cho người khác tin là thật thì bao giờ cũng gặp những trở ngại nhất định trong sự biểu cảm và thể hiện ngôn ngữ trong biện luận. Người làm việc thông thường cũng cẩn thiết đến tầm lòng, nhưng đối với luật sư thì tấm lòng còn quan trọng hơn nữa ở chỗ không gây ra trở ngại cho cơ quan xét xử, không gây trở ngại cho người khác khi tranh tụng. Vì lẽ phải chỉ được xác định khi có tấm lòng nhận định và bảo vệ nó bằng lương tâm xuất phát từ sự thật, sự công bằng và vì chân lý. Luật sư muốn nói cho hay để nhằm thuyết phục người nghe thì yếu tố tấm lòng không thể thiếu khi biện luận. Nếu thiếu đi tấm lòng sáng trong, có ý đồ “đánh tráo khái niệm”, có chủ đích bịa đặt sự kiện, thì ngôn ngữ của luật sư sẽ thiếu đi sức hấp dẫn, thiếu đi “cái hồn” của ngôn từ cho dù ngôn từ đó đã được luật sư cố ý, khéo léo ngụy trang bằng những lý lẽ nào đó thì sức mạnh của ngôn từ sẽ yếu ớt; và cũng từ đó, thuật hùng biện sẽ không thể phát huy được tác dụng cho dù là luật sư có nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp và thủ thuật che giấu lẽ phải.

5.Trách nhiệm vì lẽ phải

Trách nhiệm của luật sư là bảo vệ công lý, cho nên hơn ai hết luật sư phải hiểu rõ trách nhiệm của mình. Khi hùng biện, luật sư phải căn cứ vào những quy định của pháp luật thực định để bảo vệ khách hàng. Tuy nhiên, trách nhiệm bảo vệ khách hàng của luật sư không thể không tuân theo những nguyên tắc bảo vệ sự công bằng xã hội, bảo vệ lẽ phải, qua đó bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa. Thuật hùng biện của luật sư cho dù đạt đến một thang bậc nào đi chăng nữa thì trách nhiệm của luật sư luôn luôn phải được đặt lên trên hết trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể tham gia tố tụng. Thuật hùng biện luôn đòi hỏi tính trung thực của luật sư, cho nên trong khi hùng biện, luật sư phải tuân thủ những quy định của pháp luật hiện hành và đang còn hiệu lực để viện dẫn, lập luận nhằm làm rõ các mối quan hệ pháp luật trong một vụ việc cụ thể mà luật sư đang tham gia giải quyết.

Lẽ phải luôn luôn được quan tâm và bảo vệ, cho dù trong một hoàn cảnh nào đó lẽ phải có thể bị bưng bít, bị ngụy tạo, bị thay thế bằng các điều bịa đặt của ai đó; cho dù lẽ phải đó đang bị nhiều thế lực muốn làm cho nó lu mờ, xóa nhòa hoặc làm cho nó như chưa hề tồn tại thì luật sư theo trách nhiệm của mình phải cương quyết chỉ ra và cương quyết bảo vệ lẽ phải. Mục đích của luật sư là làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến sự việc, thì cho dù sự thật đó đang bị người khác cố ý che giấu nhằm mang lại những lợi ích nào đó cho họ, yếu tố cản trở của người khác càng tăng lên thì tính chất quan trọng của nghề nghiệp luật sư càng phải được thể hiện ở lương tầm, trí tuệ và bản lĩnh của mình thông qua ngôn từ. Nhưng khi thực hiện chức phận của mình thì trách nhiệm đó là loại trách nhiệm luật sư không thể chuyển giao cho người khác, không thể dựa vào người khác. Do vậy, tự luật sư phải giải quyết vấn đề bằng
chuyên môn, bằng nghị lực và bằng tinh thần dũng cảm của bản thần. Nhận thức được điều này, luật sư phải lựa chọn một phương thức thực hiện trách nhiệm một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất và có tính thuyết phục nhất thông qua thuật hùng biện của bản thằn.

Sự thật nhiều khi rất rõ ràng, rất hiển nhiên vì sự thật là một sự kiện đã phát sinh hoặc đang diễn ra dưới một hình thức khách quan. Nhưng không phải bao giờ và khi nào sự thật hiển nhiên cũng được thừa nhận. Thực trạng này vẫn thường tồn tại trong nhiều tranh chấp về dân sự, lao động, thương mại, hành chính và trong một số vụ án hình sự. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng cơ bản và phổ biến nhất là do có sự mâu thuẫn về quyền, lợi ích của các bên tham gia tố tụng và có thể là lợi ích của người thứ ba. Vì vậy, người ta đã tìm mọi biện pháp, mọi cơ hội có thể được nhằm bảo vệ lợi ích của mình, có lợi cho mình không những về vật chất mà còn vì những lợi ích về mặt tinh thần, bất chấp sự thật rõ ràng, nhưng sự thật đó là một bằng chứng gây bất lợi cho họ. Khi luật sư thực hiện trách nhiệm của mình vì lẽ phải, sẽ gặp rất nhiều cản trở kể cả sự đối kháng gắt gao và có cả sự đe dọa không những cho luật sư, mà còn có thể cho cả những người thân thích của luật sư. Trước thực trạng này, luật sư phải luôn luôn chủ động, nhận biết và phải có tư duy nhạy cảm, tinh tế, chính xác để tìm giải pháp vượt qua cản trở có thể ảnh hưởng đến thuật hùng biện của
mình. Trách nhiệm bảo vệ lẽ phải, vì lẽ phải muốn đạt được hiệu quả cao thì luật sư phải dùng thuật hùng biện để tự giải phóng mình ra khỏi những rắc rối của các yếu tố đối kháng, yếu tố cản trở đó.

Lẽ phải có được bảo vệ hay không còn tùy thuộc vào vốn tri thức và chuyên môn của luật sư. Thuật hùng biện là phương pháp thể hiện quan điểm, trình độ chuyên môn và khả năng biện luận của luật sư. Nhưng khả năng biện luận của luật sư không thể là “cây gậy thẩn” để biến sự thật A thành sai trái B hoặc ngược lại. Thuật hùng biện chỉ là một phương tiện hữu hiệu để làm rõ nội dung và định hướng nội dung của sự kiện, phân định được trắng - đen, phải - trái nhanh chóng. Luật sư phải có trách nhiệm vì lẽ phải và tận tâm, tận lực bảo vệ lẽ phải, thể hiện tâm vì lẽ phải để có mục đích rõ ràng, tầm thế vững vàng trong việc thể hiện ngôn ngữ và ý tứ của ngôn ngữ, cách thức thể hiện ngôn ngữ trên thế mạnh, thế chủ động. Sự kiện được coi là lẽ phải đó là gì? Lẽ phải đó được thể hiện như thế nào trong mối quan hệ pháp luật của các chủ thể nhất định? Căn cứ vào những quy định pháp luật nào để nhận định đó là lẽ phải? Mối liên hệ biện chứng giữa các sự kiện cấu thành lẽ phải? Đánh giá và xác định về mặt không gian và thời gian xảy ra sự kiện được coi là lẽ phải? Tính phù hợp và không có mâu thuẫn giữa các yếu tố tạo thành lẽ phải? Chủ thể của lẽ phải cần được bảo vệ và chủ thể vi phạm lẽ phải cần phải được luật sư nắm
vững và hiểu bản chất của vấn đề thật rõ ràng. Đồng thời, luật sư còn phải nhạy cảm, tinh tế để nhận biết được lẽ phải hiển hiện rõ ràng và xác định được diễn biến của lẽ phải, các yếu tố ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến sự nhận biết lẽ phải và khả năng chắc chắn của lẽ phải mà mình đang có trách nhiệm bảo vệ! Chúng ta có thể ví von một chút, sự thật như là hạt nhân, yếu tố vật chất hoặc phi vật chất và được ví như chúng đang tồn tại ở trạng thái tĩnh và bí ẩn, nguội lạnh, không rõ hình thù bởi tổn tại đồng thời với nó còn có các sự kiện khác chen lấn, đan xen nhưng luật sư phải có trách nhiệm phân loại, xác định phạm vi của các sự kiện. Phân loại sự kiện cơ bản, sự kiện thứ yếu, sự kiện có liên quan khác bằng tâm, đức, trí, dũng và trách nhiệm của mình. Luật sư có nghĩa vụ làm cho sự kiện nóng lên, bộc lộ rõ hương vị, màu sắc, mô hình, độ dày mỏng và sự kiện đó phải hiển hiện nguyên hình, bộc lộ tính chất thực của nó. Khi đó, thuật hùng biện của luật sư như một “bộ máy cái” nhằm sàng lọc, phân biệt thật - giả, qua đó lẽ phải được xác định và được bảo vệ.