1. Khái niệm nông sản

Nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng. Sản phẩm nông nghiệp bao gồm nhiều nhóm hàng thực phẩm, tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dược phẩm và ma túy bất hợp pháp (thuốc lá, cần sa), các sản phẩm độc đáo đặc thù. Ngày nay, nông sản còn hàm nghĩa những sản phẩm từ hoạt động làm vườn và thực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất là đất.

Nông sản hàng hoá là Nông sản hàng hóa (cash crops) là khái niệm dùng để chỉ các loại nông sản mà người nông dân sản xuất ra với mục đích bán ra thị trường. Ngược với nông sản hàng hóa là nông sản phục vụ cho mục đích tự sản, tự tiêu.

Hàng nông sản bao gồm một vi phạm khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:

-Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản:lúa gạo, lúa mì, bột mì, sữa, động vật tươi sống (trừ cá và các sản phẩm từ cá), cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,….)

-Các sản phẩm phái sinh: bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt,…..

-Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp: bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô, DDSG và nhiều sản phầm khác.....

Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản được chia làm hai nhóm, gồm nông sản nhiệt đới và nhóm còn lại.

Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bông và nhóm có sợi khác như đay, lanh, những loại quả (như chuối, xoài, ổi và một số nông sản khác) được xếp vào nhóm nông sản nhiệt đới. Trên thực tế, nhóm nông sản nhiệt đới được sản xuất chủ yếu bởi các nước đang phát triển.

Một số loại nông sản nổi tiếng : lúa gạo, vải, cà phê,...

2. Khái niệm nông sản chế biến

Nông sản chế biến là những hàng hoà được sản xuất từ nông sản nguyên liệu. Phần lớn chúng là những mặt hàng thực phẩm như đường, mút kẹo, mì ống, các loại bânh, nước xót, xúp... nhưng cũng được coi là hàng hóa công nghiệp như tinh bột đã biến đôi, chất dẻo, penisilin,...

Các loại này hợp thành một nhóm hàng hóa có thể coi vừa có cả hai tính chất nông nghiệp và công nghiệp. Chúng là một phần của chính sách nông nghiệp quốc gia, trong đó có chính sách bảo hộ và trợ cấp đề bảo vệ sản xuất nội địa đủ nông sản và thực phẩm.

3. Nhà sản xuất nông sản chế biến

Các nhà sản xuất nông sản nguyên liệu thường được bảo vệ bằng thuế nhập khẩu, nhưng họ cũng nhận được sự hỗ trợ thông qua những biện pháp liên quan đến chi tiêu ngân sách. Những nhà chế biến sử dụng nông sản làm nguyên liệu phải mua nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu với mức giá thường cao hơn giá thị trường thế giới. Nếu không áp dụng các biện pháp đặc biệt, nhà sản xuất trong nước có thê rơi vào tình trạng bất lợi so với các đối thủ cạnh tranh sản xuất tại những nước có giá nguyên liệu nông sản thấp hơn, bất kể mức giá hơn đó là do các yếu tố thị trường hay được hình thành nhờ một số hình thức đền bù.

Để giúp các nhà chế biến nông sản trong nước giữ được vị thế cạnh tranh quốc tế và đảm bảo việc tiêu thụ nguyên liệu sản xuất trong nước, người ta có thể áp dụng một số biện pháp đền bù về giá khác nhau.

Việc bù chênh lệch giá nguyên liệu không được vượt trên mức làm cân bằng sự chênh lệch. Vì vậy biện pháp bù giá không được vượt qúa sự chênh lệch giữa giá trong nước và giá trên thị trường thế giới với nông sản nguyên liệu sử dụng để chế biến. Các biện pháp bù giá có thể áp dụng cho cả hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu hoặc dưới hình thức các biện pháp nội tại.

4. Hàng nông sản theo Hiệp định nông nghiệp của WTO

Hàng nông sản vốn là nhóm mặt hàng nhạy cảm trong thương mại quốc tế. Vì vậy, không dễ đạt được thoả thuận về mở cửa thị trường và cắt giảm các hình thức trợ cấp cho loại hàng này. Sau nhiều vòng đàm phán khó khăn, các nước đã thống nhất một cơ chế thương mại riêng cho hàng nông sản, thể hiện tại Hiệp định nông nghiệp.

Trong WTO, hàng hoá được chia làm hai (02) nhóm chính: nông sản và phi nông sản. Nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản phẩm liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà hoá mã số thuế). Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:

- Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;

- Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…;

- Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô…

Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS gọi là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp).

Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản thường được chia thành 2 nhóm, gồm (i) nhóm nông sản nhiệt đới và (ii) nhóm còn lại. Cho đến nay, chưa có định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại nguyên liệu đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bông và nhóm có sợi khác (như đay, lanh), những loại quả (như chuối, xoài, ổi và một số nông sản khác) được xếp vào nhóm nông sản nhiệt đới. Trên thực tế, nhóm nông sản nhiệt đới được sản xuất chủ yếu bởi các nước đang phát triển.

5. Xác định hàng nông sản của Doanh nghiệp, nhà nước theo Hiệp định có quan trọng không?

Việc xác định hàng nông sản của Doanh nghiệp, nhà nước theo Hiệp định nông nghiệp của WTO là cực kỳ quan trọng.

Đối với doanh nghiệp kinh doanh và xuất khẩu, cần xác định rõ sản phẩm của mình có thuộc nhóm nông sản theo quy định của WTO hay không. Việc xác định này là rất quan trọng bởi nhóm nông sản sẽ được/phải áp dụng những quy chế pháp lý đặc thù, không giống với quy chế áp dụng chung cho các loại hàng hoá phi nông nghiệp.

Từ góc độ của doanh nghiệp, mức độ mở cửa thị trường nông sản có tác động hai mặt. Đối với việc xuất khẩu nông sản, đàm phán mở cửa càng thành công thì doanh nghiệp càng dễ tiếp cận thị trường nông sản nước ngoài (do mức thuế giảm, ít các biện pháp phi thuế…) và sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu ở thị trường xuất khẩu cũng vì thế tăng lên. Theo hướng ngược lại, đối với thị trường trong nước, mở cửa đồng nghĩa với việc nông sản nước ngoài sẽ vào dễ dàng hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn và do đó có thể làm ảnh hưởng đến thị phần hàng nông sản nội địa trên chính sân nhà.

“Mở cửa thị trường” nông sản được hiểu là việc giảm bớt các “rào cản” về vật chất và thủ tục để nông sản nước ngoài có thể tiếp cận thị trường nước nhập khẩu một cách thuận lợi. Trong WTO, “mở cửa” đồng nghĩa với việc giảm thuế nhập khẩu (và không được tăng trở lại), giảm và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu (như hạn ngạch, quy định giá nhập khẩu tối thiểu, các loại thuế-phí liên quan đến việc nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, các biện pháp mang tính hạn chế khác…).

Thực hiện những yêu cầu mở cửa thị trường nông sản là nghĩa vụ của Chính phủ các nước thành viên WTO, không phải là nghĩa vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp nông sản lại là những đối tượng chịu tác động trực tiếp từ việc các Chính phủ thực hiện những nghĩa vụ này (được lợi vì thị trường mở cửa hoặc bị ảnh hưởng do không còn được bảo hộ như trước).

Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần biết về các nguyên tắc chung về mở cửa thị trường nông sản này để có kế hoạch kinh doanh phù hợp, đồng thời cũng có căn cứ để khiếu nại, khiếu kiện bảo vệ lợi ích của mình khi cần thiết (ví dụ khi nước nhập khẩu vi phạm nghĩa vụ mở cửa thị trường nông sản khiến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam bị ảnh hưởng).

Thuế quan hoá là việc chuyển các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quan (ví dụ hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu…) thành thuế quan. Đây là nguyên tắc quan trọng trong WTO bởi thuế quan là biện pháp minh bạch, ổn định và dễ dự đoánhơn nhiều so với các biện pháp phi thuế quan.

Theo quy định của WTO, hầu hết các biện pháp phi thuế quan đối với hàng phi nông nghiệp bị buộc phải chấm dứt. Tuy nhiên, đối với hàng nông sản, các biện pháp phi thuế mà các nước thành viên WTO trước đó đang áp dụng vẫn được thừa nhận giá trị nhưng bị buộc phải quy đổi thành một giá trị cụ thể (tiền) và chuyển hoá thành thuế suất bổ sung vào mức thuế quan đang áp dụng; sau đó mỗi nước thành viên phải đàm phán và cam kết thuế ở một mức nhất định và đảm bảo rằng trong tương lai không được tăng thuế cao hơn mức cam kết đó. Trường hợp muốn tăng thuế cao hơn mức cam kết thì nước đó phải đàm phán lại và thông thường phải “đền bù” cho các nước liên quan do việc tăng thuế này.

Đối với doanh nghiệp, thuế quan hoá mặc dù có thể làm tăng thuế nhập khẩu nhưng sẽ thuận lợi và minh bạch hơn rất nhiều về thủ tục so với trước. Hơn nữa, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được những khoản phí bổ sung hoặc chi phí không chính thức (vốn rất phổ biến khi các biện pháp phi thuế được áp dụng).

Hiện tại, chỉ còn rất ít các biện pháp phi thuế được phép áp dụng ở các nước thành viên WTO với những điều kiện cụ thể; do đó nếu bị áp dụng biện pháp phi thuế, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ quy định để có thể khiếu nại, khiếu kiện tại nước nhập khẩu hoặc thông qua Chính phủ khiếu kiện tại WTO để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.

Trong WTO, các nước thành viên được phép sử dụng các biện pháp tự vệ (tăng thuế, áp dụng lại chế độ hạn ngạch, duy trì cơ chế giấy phép nhập khẩu…) để đối phó lại với tình trạng nhập khẩu ồ ạt gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Các điều kiện và cách thức để tiến hành tự vệ được quy định trong Hiệp định về Tự vệ (Xem thêm phần về Biện pháp tự vệ).

Tuy nhiên, đối với một số loại nông sản sau khi đã thuế hoá các biện pháp phi thuế, hành động tự vệ sẽ chỉ phải tuân thủ một số điều kiện trong Hiệp định nông nghiệp (gọi là biện pháp tự vệ đặc biệt – Special safeguard measures - SSG) mà về cơ bản là dễ dàng hơn điều kiện tại Hiệp định về Tự vệ. Những loại nông sản là đối tượng của các biện pháp tự vệ đặc biệt này là những loại được đánh dấu bằng chữ “SSG” trong Biểu cam kết của từng nước và là kết quả của sự đàm phán, thoả thuận của các thành viên WTO.

Như vậy, biện pháp tự vệ áp dụng cho đa phần nông sản vẫn thực hiện theo Hiệp định về Tự vệ nhưng có một số sản phẩm (nông sản có đánh dấu SSG) thực hiện theo quy định về tự vệ đặc biệt tại Hiệp định Nông nghiệp (với các điều kiện và yêu cầu thấp hơn).

Các doanh nghiệp khi xuất hàng nông sản cần chú ý quy định và thực tiễn về SSG của từng thị trường. Nếu hàng của doanh nghiệp thuộc nhóm có thể áp dụng SSG thì cần rất thận trọng khi tăng lượng xuất khẩu bởi khả năng bị áp dụng biện pháp tự vệ, tức là bị áp thuế bổ sung ngoài thuế quan đã ấn định trước, sẽ cao hơn nhiều so với các hàng hoá khác (vì điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ đối với các trường hợp hàng hóa SSG dễ dàng hơn nhiều).

Mỗi nước đều có những nhu cầu đặc thù liên quan đến việc bảo hộ nông sản, nhóm mặt hàng được xem là nhạy cảm. Tuy nhiên, việc đưa ra các biện pháp khác nhau đối với thương mại hàng nông sản không được phép tuỳ tiện.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).