1. Sự cần thiết của các trợ cấp đối với nông sản chế biến.

Nông sản chế biến là những hàng hoà được sản xuất từ nông sản nguyên liệu. Phần lớn chúng là những mặt hàng thực phẩm như đường, mứt kẹo, mì ống, các loại bânh, nước xốt, xúp V.V...nhưng cũng được coi là hàng hóa công nghiệp như tinh bột đã biến đôi, chất dẻo, penisilin, v.v...

Các loại này hợp thành một nhóm hàng hóa có thể cối vừa có cả hai tính chất nông nghiệp và công nghiệp. Chúng là một phần của chính sách nông nghiệp quốc gia, trong đó có chính sách bảo hộ và trợ cấp đề bảo vệ sản xuất nội địa đủ nông sản và thực phẩm.

Các nhà sản xuất nông sản nguyên liệu thường được bảo vệ bằng thuế nhập khẩu, nhưng họ cũng nhận được sự hỗ trợ thông qua những biện pháp liên quan đến chi tiêu ngân sách. Những nhà chế biến sử dụng nông sản làm nguyên liệu phải mua nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu với mức giá thường cao hơn giá thị trường thế giới. Nếu không áp dụng các biện pháp đặc biệt, nhà sản xuất trong nước có thể rơi vào tình trạng bất lợi so với các đối thủ cạnh tranh sản xuất tại những nước có giá nguyên liệu nông sản thấp hơn, bất kê mức giá hơn đó là do các yếu tố thị trường hay được hình thành nhờ một số hình thức đền bù.

Để giúp các nhà chế biến nông sản trong nước giữ được vị thế cạnh tranh quốc tế và đảm bảo việc tiêu thụ nguyên liệu sản xuất trong nước, người ta có thể áp dụng một số biện pháp đền bù về giá khác nhau.

Việc bù chênh lệch giá nguyên liệu không được vượt trên mức làm cân bằng sự chênh lệch. Vì vậy biện pháp bù giá không được vượt quâ sự chênh lệch giữa giá trong nước và giá trên thị trường thế giới với nông sản nguyên liệu sử dụng để chế biến. Các biện pháp bù giá có thể áp dụng cho cả hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu hoặc dưới hình thức các biện pháp nội tại.

 

2. Những yếu tố tác động đến trợ cấp nông sản chế biến

2.1. Yêu tố nông nghiệp và yếu tố phi nông nghiệp

Ngoài nông sản nguyên liệu, các mặt hàng nông sản chế biến còn có yếu tố giá trị gia tăng công nghiệp, thể hiện trong đó chi phí quản lý, tiền vốn, lao động và các yếu tổ khác cua sản xuât khác cũng như lợi nhuận trong nông nghiệp chế biến. Những yếu tổ sản xuất và tỷ lệ lợi nhuận cần phải đặt trong vị thế cạnh tranh quốc tế để khuyến khích việc sử dụng chúng một cách hiệu quả

Vì vậy, khi bảo hộ nhập khẩu đối với các nông sản chế biến càn phải phân định rõ hai yếu tố nông nghiệp và phi nông nghiệp (công nghiệp) đế trong các hiệp định thương mại tự do yếu tố công nghiệp được giảm bớt hoặc loại bỏ như đối với trường hợp bảo hộ nhập khẩu với mọi sản phẩm công nghiệp. Yếu tố nông nghiệp có thể được giữ lại bất chấp chế độ thương mại tự do, để tính toán sự chênh lệch trong giá thành của nông sản nguyên liệu

Khi bảo hộ nông sản chế biến có yếu to nông nghiệp và phi nông nghiệp (công nghiệp), toàn bộ mức thuế tính gộp từ hai yếu tố này không được vượt quá thuế quan theo quy định bắt buộc của WTO. Điều này có nghĩa là nếu một thành viên của WTO đã đồng ý rằng thuế quan đối với một mặt hàng nào đó không vượt quá 10%, thì thuế tính cho cả hai yếu tố nông nghiệp và công nghiệp cũng không được vượt quá mức này.

 

2.2. Giá thị trường trong nước và giá trên thế giới

Giá trong nước đối với nguyên liệu đầu vào ở Châu Âu thường cao hơn giá trên thị trường thế giới đối với cùng một loại hàng hoá. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngược lại như đối với mặt hàng đường ở một số nước thành viên EFTA trong năm 1974. Trường hợp này dẫn đến một tình huống phức tạp khi áp dụng các biện pháp bù giá, vì chưa từng xảy ra trong hệ thống các nước này.

 

2.3. Bù giá nội tại và bù giá bên ngoài.

Các biện pháp bù giá có thể áp dụng dưới hình thức thuế cố định, các giải pháp xuất khẩu và nội tại.

Bù giá nội tại hay có khi còn gọi là phương pháp giá thấp, có nghĩa là nhà sản xuất các nông sản chế biến sẽ nhận được trợ cấp (biện pháp giảm giá) cho sản xuất của mình, trợ cấp này tương ứng với chênh lệch giữa giá trong nước và giá trên thị trường quốc tế của các nông sản nguyên liệu quan trọng nhất có trong thành phâm bất kể sản phẩm đó dự định để tiêu thụ trong nước hay xuất khẩu. Phương pháp này được tài trợ từ ngân sách, vì thế người đóng thuế phải gánh chịu phần bù giá hoặc bằng cách sử dụng biện pháp thuế cân bằng áp dụng cho cả hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu.

Bù giá bên ngoài hay còn goi là phương pháp giá cao, có nghĩa là thuế cố định được áp dụng khi nhập khẩu và được hoàn lại khi xuất khẩu thành phẩm, số hoàn lại tương ứng với chênh lệch giữa giá trong nước và giá thị trường thế giới đối với nguyên liệu có nông sản chế biến đó. Trong phương pháp này người tiêu dùng gánh chịu mức bù giá.

Để được bù giá, cần phải xác định rõ các sản phẩm cơ bản. Đây thường là những nông sản được sử dụng làm nguyên liệu và có vai trò quan trọng đối với sản xuất trong nước như đường, ngũ cốc, tinh bột, trứng và các sản phẩm sữa.

 

3. Một số các hiệp định quốc tế về bù giá đối với nông sản chế biến

3.1.Công ước Stockholm (EFTA)

Những nguyên tắc đối với việc áp dụng các biện pháp bù giá trong Công ước Stockholm được điều chỉnh bởi Điều 21 và Phụ lục D chia làm 3 phần. Phần I liệt kê những sản phẩm mà thương mại tự do và các biện pháp bù giá có thể áp dụng. Phần II gồm những sản phẩm chủ yếu được đối xử như là nông sản trong EFTA, tức chúng không phải là những sản phẩm theo quy chế thương mại tự do. Tuy nhiên, những sản phẩm này xuất hiện trong các phụ lục của Nghị định thư số 2 đối với các khu vực thương mại tự do với EC, như những nông sản chế biến, chúng cũng được đưa vào Công ước Stockholm như những nông sản chế biến và có thể được áp dụng các biện pháp bù giá.

Người ta cũng thoả thuận trong EFTA rằng bù giá cho các yếu tố nồng nghiệp trong giá của thực phẩm chế biến không thể vượt quá chênh lệch giữa mức giá trong nước và trên thị trường quốc tế đối với nguyên liệu thô [Điều 21.1(c)]. Hơn nữa, Điều 21 quy định rằng đối xử dành cho những mặt hàng nhập khẩu liệt kê trong Phụ lục D, các Phần I và từ các Nhà nước thành viên EFTA phải được thuận lợi không kém so với đối xử cho hàng hoá nhập khẩu từ các Nhà nước Thành viên EU.

Những sản phẩm liệt kê trong Phần III không thuộc phạm vi điều chỉnh của các điều khoản về thương mại tự do của Công ước này.

 

3.2. Bù giá trong EU

Từ năm 1996, EU đã đưa ra một hệ thống thống nhất cho việc bù chênh lệch của giá thành nguyên liệu trong nông sản chế biến. Các quy định điều chỉnh hệ thống này đã thay đổi và các quy định hiện nay được thể hiện trong Quy định của Hội đồng No.3448/93, trong đó đưa ra cách xử lý thương mại áp dụng cho một số hàng hoá sản xuất từ nông sản chế biến. Quy định của uỷ ban No. 1460/96 bao gồm các quy tắc chi tiết về ưu đãi thương mại áp dụng cho một số hàng hoá sản xuất từ nông sản chế biến.

Quy định của Hội đồng số 3448/93 gồm những quy tắc áp dụng cho cả xuất khẩu và nhập khẩu cũng như những điều khoản để áp dụng chế độ ưu đãi. Bản Quy định xác định những sản phẩm cơ bản (sữa và các sản phẩm từ sữa, ngô, ngũ cốc, đường) và những nông sản chế biến được áp dụng các điều khoản bù giâ.

Khi nhập khẩu vào EC, hàng hoá phải chịu một khoản thuế. Khoản thuế này sẽ gồm phần tính cho thành phần công nghiệp có xét đến điều kiện sản xuất và tiếp thị của hàng hoá đó. Ngoài ra, nó cũng có phần tính cho “thành phần nông nghiệp” để bù chênh lệch về giá giũa thị trường Cộng đồng và các thị trường của nước thứ ba đối với những sản phẩm nông nghiệp được cối là đã sử dụng trong quá trình sản xuất. Sau khi áp dụng những hiệp định của WTO, cả hai thành phần nông nghiệp và công nghiệp được hợp lại trong Biểu Thuế quan Cộng đồng.

Khi hàng hoá nông nghiệp chế biến được xuất khâu, thì nông sản có trong đó có thể được hoàn thuế.

Quy định của Uỷ ban số 1460/96 đưa ra mộl số nguyên tắc để xác định thành phần nông nghiêp đã giảm bớt có liên quan tới thành thành nông nghiệp theo biều Thuế quan Cộng đồng và để quản lý hạn ngạch được mở theo các thoả thuận ưu đãi áp dụng cho sản phẩm đưa ra trong Quy định của Hội đồng số 3448/93. Các thoả thuận ưu đãi cũng có thể áp dụng thu một khoản cụ thể có được giảm thuế hay không trong khuôn khô một hạn ngạch.

Sản phẩm được EU áp dụng các điều khoản về những biện pháp bù giá khi nhập khẩu vào hoặc xuất khẩu ra khỏi EU được liệt kê trong danh mục của EU tại Nghị định thư 2 của các hiệp định thương mại tự do giữa từng nước thành viên trong EFTA với EC. Các nước EFTA đã đưa vào đây một số sản phẩm tương tự trong danh mục tương ứng của nước mình tại Nghị định thư này. Tuy nhiên có một vài điểm khác nhau về phạm vi của sản phârn trong danh mục của EU và trong danh mục của các nước EFTA. Nghị định thư 2 cũng có những điều khoản liên quan đến những tiêu chí để áp dụng các biện pháp bù giâ. Một khoản thuế cố định có thể bị thu khi nhập khẩu hoặc các biện pháp bù giá nội tại được áp dụng. Đối với trường hợp hàng xuất khẩu cũng tương tự. Các điều khoản cho phép tự do lựa chọn phương pháp bù giá.

Theo các hiệp định của WT0, từng nước trong EFTA đàm phán với EC để có khả năng thực hiện các điều khoản của WTO về buôn bân nông sản chế biến theo chế độ ưu đãi (Nghị định thư so 2 của EFTA). Điều này bao gồm cả việc đưa vào các mức thuế cố định thay cho các thành phần khả biến.

 

3.3. Hiệp định EEA

Các điều khoản về áp dụng chế độ đặc biệt trong buôn bán nông sản chế biến được nêu ra trong Nghị định thư số 3 của Hiệp định EEA. Những đợt đàm phán liên quan đến Nghị định thư này vẫn chưa kết thúc, chính vì vậy phần này của Hiệp định EEA vẫn chưa đưa vào thực hiện (trừ một số sản phẩm trong bảng n của Nghị định thư).

Nguyên tắc cơ bản về bù giá vẫn giống như trong Nghị định thư số 2 của các hiệp định thương mại tự do giữa các nước EFTA và EC, nhưng trong Nghị định thư số 3, phạm vi của sản phẩm đã được tăng lên.

Đối với sản phẩm trong danh mục II của Nghị định thư số 3, các bên ký kết có thể không thu thuế quan đối với hàng nhập khẩu hoặc áp dụng các biện pháp bù giá đối với hàng xuất khẩu và nhập khẩu. Như vậy tự do thương mại hoàn toàn được áp dụng cho những sản phẩm này. Nhiều sản phẩm vốn được đối xử như sản phẩm hưởng chế độ tự do thương mại theo Công ước EFTA, nhưng một số sản phẩm khác cũng được bô sung thểm vào danh mục này.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)