1.Trọng tài là gì ?
Giải quyết tránh chấp dân sự bằng trọng tài là biện pháp giải quyết tranh chấp được các nhà kinh doanh rất ưa chuộng. Đây là "sản phẩm" tất yếu của nền kinh tế thị trường. Tự do ký kết hợp đồng, tự do kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật đương nhiên bao gồm cả tự do thoả thuận lựa chọn biện phấp giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng Trọng tài
Ở tất cả các nước trên thế giới, các tranh chấp dân sự dù có hay không có yếu tố nước ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng toà án mà bằng cả Trọng tài. Pháp luật các nưốc cũng như các điều ước quốc tế do các nước ký kết đều có những quy định về những trường hợp cho phép câc bên đương sự thoả thuận đưa tranh chấp ra Trọng tài để giải quyết, nếu các bên không hoà giải được vối nhau.
Trọng tài là cơ quan xét xử do các bên đương sự thoả thuận thành lập trong khuôn khổ pháp luật cho phép để giải quyết tranh chấp giữa chính các bên đương sự đó. Thành phần của Trọng tài do các bên đương sự thoả thuận quyết định.
Theo pháp luật và thực tiễn của các nước, Trọng tài được thành lập chỉ để giải quyết những tranh chấp dân sự nhất định, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, thương mại. Trọng tài thường không được phép giải quyết các tranh chấp về hôn nhân, gia đình, thừa kế và một số loại tranh chấp khác do pháp luật quy định. Ví dụ, theo Điều 2 của Luật Trọng tài năm 1994 của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tranh chấp liên quan đến hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ và thừa kế, tranh chấp hành chính không thể được giải quyết bằng Trọng tài. Tuy nhiên, cũng có nước cho phép Trọng tài giải quyết cả các tranh chấp này. Nói cách khác, pháp luật các nước đều phân định rõ những tranh chấp chỉ do toà án giải quyết và những tranh chấp các bên đương sự có quyền thoả thuận đưa ra Trọng tài giải quyết.
2. Ở các nước và thực tiễn ở Việt Nam
Ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, Trọng tài là cơ quan xét xử có tính chất phi chính phủ, Ịà tổ chức xã hội - nghề nghiệp, bởi lẽ, nếu biến thành cơ quan xét xử của Nhà nước thì nó không còn là trọng tài nữa.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước khi Liên Xô tan rã, các tổ chức trọng tài phi chính phủ như Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải nằm bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp của mỗi nước được thành lập chỉ để giải quyết các tranh chấp kinh tế đối ngoại. Để giải quyết các tranh chấp kinh tế trong nội bộ quốc gia, các nước này thành lập hệ thông cơ quan được gọi là “Trọng tài kinh tế nhà nước”. Các cơ quan Trọng tài kinh tế nhà nước này thực chất là các cơ quan xét xử của Nhà nước tồn tại song song với toà án.
Trước đây ở nước ta, tại các Toà án nhân dân không có toà chuyên trách giải quyết các tranh chấp kinh tế. Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài kinh tế hăm 1990, các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà chủ thể là các pháp nhân và các cá nhân có đãng ký kinh doanh theo pháp luật đều do Trọng tài kinh tế của Nhà nước xét xử (ở các địa phương có Trọng tài kinh tế quận, huyện, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ỏ Trung ương có Trọng tài kinh tế nhà nước). Nói một cách chính xác là, các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà chủ thể là các pháp nhân và các cá nhân có đăng ký kinh doanh theo pháp luật đều buộc phải đưa ra Trọng tài kinh tế nhà nước để giải quyết mà không cần có sự thoả thuận của các bên đương sự. Trọng tài kinh tê Nhà nưốc còn được giao nhiệm vụ thực hiện quản lý Nhà nước về đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp và về hợp đồng kinh tế.
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, thực hiện sự chỉ huy thống nhất cao độ từ trung ương, thì sự ra đời và tồn tại của Trọng tài kinh tế Nhà nước là cần thiết và tất yếu. Song một khi đã từ bỏ cơ chế quản lý cũ, chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trưồng định hướng xã hội chủ nghĩa, thì Trọng tài kinh tế Nhà nước không còn lý do để tồn tại.
Thực tiễn của Việt Nam thời gian qua cũng như thực tiễn của các nước trên thế giới cho thấy rằng, trong kinh tế thị trưòng không thể tồn tại một loại cơ quan xét xử nửa toà án, nửa trọng tài; các nhà kinh doanh rất cần một cơ chế thật sự
"thoáng hơn" để xử lý nhanh và có hiệu quả các tranh chấp phát sinh trong kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu thu hồi vốn nhanh, để tiếp tục kinh doanh, sớm ổn định các mối quan hệ để phát triển khả năng kính doanh sinh lợi của mình.
Với nhận thức đúng đắn về yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hưống xã hội chủ nghĩa trong vấn đề tổ chức và hoạt động của trọng tài phi chính phủ, Nhà nưổc ta một mặt đã quyết định giải thể hệ thốhg Trọng tài kinh tế Nhà nước từ trung ương đến địa phương, tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân; để thành lập Toà kinh tế tại các Toà án nhân dân; mặt khác, xúc tiến chuẩn bị các điều kiện cho việc hình thành các trung tâm Trọng tài kinh tế phi chính phủ ở các tỉnh, thành phô' trực thuộc Trung ương. Kết quả là từ ngày 1-7-1994 hệ thống Trọng tài kinh tế Nhà nước đã chấm dứt hoạt động; chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế được chuyển giao từ Trọng tài kinh tế Nhà nước sang Toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3.Sự ra đời của trung tâm trọng tài
Để góp phần giảm bớt gánh nặng của toà án trong việc giải quyết các tranh chấp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đáp ứng nguyện vọng của các nhà kinh doanh, Nhà nước ta đã khẳng định chủ trương cho phép thành lập các trung tâm Trọng tài kinh tế ỗ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vối tính chất là các tổ chức trọng tài phi chính phủ, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Trước khi chuẩn bị giải thể hệ thống Trọng tài kinh tế nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành các biện pháp củng cố về mặt tổ chức các tổ chức trọng tài phi chính phủ bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam như quyết định thành lập Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam trên cơ sở hai cơ quan trọng tài là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng hải của Việt Nam đã tồn tại từ trước tới nay bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Thực hiện chủ trương trên, ngày 5-9-1994 Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 116/CP cho phép thành lập các trung tâm Trọng tài kinh tế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế, tranh chấp giữa các công ty vối các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau. Thông tư số 02/PLDSKT ngày 3-1-1995 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thậm chí còn mở rộng thẩm quyền của các trung tâm Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sang cả lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài, bất kể quốc tịch hoặc nơi cư trú của các bên tranh chấp.
Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam cũng như các trung tâm Trọng tài kinh tế thành lập và hoạt động theo Nghị định số 116/CP ngày 5-9-1994 đều là các tổ chức trọng tài phi chính phủ hay còn gọi là các tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Và như vậy, kể từ ngày Nghị định 116/CP nêu trên được ban hành (5-9-1994), ỏ Việt Nam chỉ còn có một loại hình trọng tài là trọng tài phi chính phủ. Ngày nay ỗ Trung Quốc, trọng tài cũng được khẳng định là tổ chức xã hội độc lập, không có mối quan hệ nào với các tổ chức hành chính (Điều 14 và Điều 15 của Luật Trọng tài Trung Quốc năm 1994).
4.Phân loại trọng tài
Trọng tài phi chính phủ gồm hai loại: trọng tài đơn vụ (trọng tài ad hoc) và trọng tài thường trực (hay còn gọi là trong tài quy chể). Trọng tài đơn vụ là Trọng tài được các bên đương sự thoả thuận thành lập để giải quyết một vụ việc cụ thể có tranh chấp; Trọng tài viên là bất kỳ người nào mà các bên chấp nhận và có đủ các điều kiện do pháp luật quy định, không phụ thuộc vào danh sách trọng tài viên của các tổ chức trọng tài, không có sẵn quy tắc tố tụng cụ thể. Các bên đương sự tự quyết định thể thức thành lập trọng tài đơn vụ và thủ tục giải quyết tranh chấp phù hợp với các quy định của pháp luật quốc gia về trọng tài. Thông thường trọng tài đơn vụ gồm từ một đến ba trọng tài viên. Sau khi giải quyết xong tranh chấp, trọng tài ad hoc tự giải thể.
Khác với trọng tài đơn vụ, trọng tài thường trực được thành lập dưới hình thức Trung tâm trọng tài, một tổ chức xã hội - nghề nghiệp, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quốc gia quy định, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có điều lệ tổ chức và hoạt động, có danh sách trọng tài viên và bản quy tắc tố tụng định sẵn của mình. Các Trung tâm trọng tài có thể đứng riêng, hoàn toàn độc lặp, nhưng cũng có thể nằm bên cạnh các tổ chức khác như các hiệp hội nghề nghiệp, các phòng thương mại, các phòng thương mại và công nghiệp ở các quốc gia.
Hiện nay trên thế giới cả trọng tài ad hoc và trọng tài thường trực đều được sử dụng rộng rãi trong việc giải quyết các tranh chấp trong sản xuất, kinh doanh. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành không quy định việc chấp nhận hay không chấp nhận trọng tài ad hoc. Trên thực tế các nhà kinh doanh Việt Nam cũng chưa bao giò sử dụng loại trọng tài này để giải quyết tranh chấp.
5.Quy định chung về trọng tài
Điều 1.
Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
Điều 2.
1- Trọng tài kinh tế được tổ chức dưới hình thức Trung tâm Trọng tài kinh tế.
2- Tổ chức và hoạt động của mỗi Trung tâm Trọng tài kinh tế được xác định trong Điều lệ phù hợp với Nghị định này và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Điều 3.
1- Các bên có quyền thoả thuận lựa chọn Trung tâm Trọng tài kinh tế để giải quyết tranh chấp cho mình, không phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở hoặc nơi cư trú của các bên.
2- Trung tâm Trọng tài kinh tế chỉ nhận đơn yêu cầu giải quyết các tranh chấp kinh tế được quy định tại Điều 1 Nghị định này, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đã có thoả thuận bằng văn bản về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại chính Trung tâm Trọng tài kinh tế đó.
Điều 4.
Việc giải quyết tranh chấp kinh tế có thể do một Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên hoặc do một Trọng tài viên thực hiện.
Điều 5.
Quyết định giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài kinh tế (sau đây gọi là quyết định trọng tài) có hiệu lực thi hành, không bị kháng cáo.
Điều 6.
Trọng tài viên giải quyết tranh chấp kinh tế phải tôn trọng sự thật khách quan, vô tư và đúng pháp luật.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )