1. Tuân thủ pháp luật là gì?

Hiện nay bất kỳ ai sống trong mối quan hệ với Nhà nước, xã hội đều cần thực hiện pháp luật. Theo đó thực hiện pháp luật được hiểu là những hoạt động làm cho các quy phạm pháp luật được thực hiện trên thực tế và trở thành hành vi hợp pháp của các chủ thể thực hiện. Thực hiện pháp luật được phân chia thành 04 hình thức như sau:

+ Tuân thủ pháp luật.

+ Thi hành (chấp hành) pháp luật;

+ Sử dụng (vận dụng) pháp luật;

+ Áp dụng pháp luật.

Tuân thủ pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật. Tuân thủ pháp luật là việc chủ thể pháp luật kiềm chế mình để không thực hiện những điều mà pháp luật cấm thực hiện.

Đối với hành vi của con người là sự biểu hiện ra bên ngoài của nhận thức, và nhận thức thế nào thì hành vi sẽ thực hiện theo như vậy. Nhưng, hành vi còn có tính phản xạ bản năng, tức là làm theo bản năng. Do đó tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động, thể hiện ở sự kiểm chế của bản thân mình trước pháp luật để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật. 

Ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ pháp luật trong một bộ phận lớn của dân chúng chưa trở thành một phản xạ bản năng và mặc định trong ý thức, nên việc tuân thủ pháp luật còn khá tùy hứng, và việc vi phạm pháp luật vẫn còn là hiện tượng “rất bình thường” và không bị coi là phản cảm trong xã hội.

2. Đặc điểm của tuân thủ pháp luật

Ngoài việc giải đáp Tuân thủ pháp luật là gì thì đặc điểm của tuân thủ pháp luật sẽ được chúng tôi giải đáp để bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Về bản chất của tuân thủ pháp luật có thể thấy đây là việc thực hiện pháp luật có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng “hành vi không hành động”. Tức chủ thể nhận thức được các hành vi của bản thân, nắm được quy định của pháp luật và không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm không cho phép. Ví như hiện pháp luật Việt Nam cấm hành vi mua, bán dâm thì các chủ thể “không thực hiện hành vi mua, bán dâm” được xem là tuân thủ pháp luật.

Đối với tuân thủ pháp luật được pháp luật quy định chủ thể thực hiện là mọi chủ thể. Ai sống trong mối quan hệ với Nhà nước xã hội và trong quan hệ cộng đồng đều cần tuân thủ pháp luật. Vấn đề này không phải riêng ai và không loại trừ chủ thể nào.

Hình thức thể hiện của tuân thủ pháp luật thường được thể hiện dưới dạng những quy phạm cấm đoán.Tức là quy phạm buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định. Khi pháp luật quy định cấm làm một điều gì đó thì họ không tiến hành hoạt động này mặc dù họ có cơ hội để thực hiện một hành vi bị cấm.

Bên cạnh đó cùng với thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật thì tuân thủ pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể đều bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật mà không có sự lựa chọn.

3. Khái niệm chi phí tuân thủ pháp luật

Theo thông lệ quốc tế, đặc biệt là tại các quốc gia thuộc thành viên tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development viết tắt là OEDC), “chi phí tuân thủ pháp luật” được hiểu là các loại chi phí liên quan tới việc tuân thủ, thực hiện một quy định của pháp luật, bao gồm các chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Đối tượng chịu chi phí đó có thể là doanh nghiệp, người dân và chính phủ .

Chi phí tuân thủ pháp luật được tạo ra từ một quy định pháp luật qua hoạt động của cơ quan nhà nước (khi tiến hành các hoạt động soạn thảo, thông qua, thực thi các văn bản pháp luật) và cá nhân, tổ chức khi tuân thủ quy định pháp luật.
Chi phí tuân thủ pháp luật của cá nhân, tổ chức được hiểu theo hai nghĩa (theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng). Theo đó, chi phí tuân thủ pháp luật được hiểu là các chi phí mà người dân, tổ chức (trong đó có các doanh nghiệp) phải gánh chịu trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật. Chi phí tuân thủ pháp luật (theo nghĩa hẹp) bao gồm 03 loại chi phí: Chi phí hành chính, chi phí đầu tư để tuân thủ quy định, Phí và lệ phí. Theo điểm 1.1 mục 1 phần I Tài liệu hướng dẫn nâng xếp hạng chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật (Kèm theo Công văn số 1083/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 29/3/2019 của Bộ Tư pháp), các chi phí được định nghĩa như sau:

- Chi phí hành chính: Chi phí về nhân công và thời gian mà doanh nghiệp, người dân phải gánh chịu để thực hiện các yêu cầu của pháp luật, bao gồm thực hiện thủ tục hành chính với cơ quan nhà nước và các nghĩa vụ khác (ví dụ, lưu giữ thông tin hoặc cung cấp thông tin cho khách hàng, người tiêu dùng…).

- Chi phí đầu tư để tuân thủ quy định: Chi phí mà doanh nghiệp, người dân phải đầu tư về cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, nhân công, đào tạo,… để đáp ứng các yêu cầu theo quy định pháp luật.

- Phí và lệ phí: Các khoản phí, lệ phí chính thức mà doanh nghiệp, người dân phải nộp trong quá trình thực hiện các thủ tục có liên quan.
Chi phí tuân thủ pháp luật (theo nghĩa rộng) bao gồm 05 loại chi phí. Theo đó, chi phí tuân thủ pháp luật ngoài 03 loại chi phí (theo nghĩa hẹp) như đã nêu trên: chi phí hành chính, chi phí đầu tư để tuân thủ quy định, Phí và lệ phí, thì còn có thêm 02 loại chi phí là: Chi phí rủi ro pháp lý (nếu có) và chi phí không chính thức.

- Chi phí rủi ro pháp lý (nếu có): Chi phí tăng thêm, thiệt hại hoặc mất cơ hội kinh doanh mà doanh nghiệp, người dân phải gánh chịu do chất lượng kém của quy định pháp luật dẫn đến bị xử phạt hoặc chậm trễ trong giải quyết thủ tục.

- Chi phí không chính thức: Các khoản trả thêm hoặc “lót tay” liên quan đến việc xuất khẩu, nhập khẩu, sử dụng dịch vụ công cộng (ví dụ: điện thoại, điện năng), trả thuế,… hoặc để được nhận các hợp đồng, giấy phép trong lĩnh vực công hoặc để có được các quyết định thuận lợi.

4. Chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật

Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum-WEF), chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật (Burden of government regulation, gọi tắt là chỉ số B1) là một trong những chỉ số nằm trong mục hiệu quả khu vực công (D-Public-sector performance) thuộc trụ cột thể chế (trụ cột 1). Mục hiệu quả khu vực công được tính với thang đo/đơn vị tính là từ 0-100, với 100 là điểm số tốt nhất – Điểm số lý tưởng.

Theo điểm 1.2 mục 1 phần I Tài liệu hướng dẫn nâng xếp hạng chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật (Kèm theo Công văn số 1083/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 29/3/2019 của Bộ Tư pháp), chỉ số B1 có thể hiểu là chỉ số tổng hợp ý kiến cảm nhận (thông qua trả lời câu hỏi khảo sát) về mức độ tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho doanh nghiệp trong tuân thủ những quy định của pháp luật (làm phát sinh chi phí tuân thủ pháp luật: Chi phí hành chính; Chi phí đầu tư để tuân thủ quy định; Phí, lệ phí; Chi phí rủi ro pháp lý; Chi phí không chính thức), được xếp theo thang bậc đánh giá tính từ mức 01 (kém nhất) đến mức 07 (tốt nhất).

Đối tượng khảo sát để xếp hạng của chỉ số B1 là các doanh nghiệp. Để đánh giá, xếp hạng về chỉ số B1, năm 2018, WEF đã lấy phiếu khảo sát một số doanh nghiệp của các quốc gia (những nước được khảo sát), trong đó, người trả lời là lãnh đạo các doanh nghiệp. Kết quả trả lời câu hỏi khảo sát “Ở nước bạn, các công ty phải tuân thủ các yêu cầu của cơ quan nhà nước (ví dụ: giấy phép, quy định, báo cáo) như thế nào? [1=cực kỳ nặng nề; 7=không nặng nề chút nào]  Đo bằng phương pháp trung bình có trọng số của giai đoạn 2017-2018 hoặc giai đoạn gần nhất có dữ liệu.

Kết quả trả lời câu hỏi khảo sát về chỉ số B1 nêu trên được tổng hợp, đánh giá dựa trên ý kiến trả lời mang tính cảm nhận của các doanh nghiệp khi được hỏi về gánh nặng chi phí tuân thủ pháp luật mà các doanh nghiệp đang phải thực hiện. Việc đánh giá về chỉ số B1 - là một trong những chỉ số có ảnh hưởng đến việc đánh giá về  năng lực cạnh tranh theo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0).  Thực hiện cải thiện chỉ số B1 là góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh theo GCI 4.0 vì nếu gánh nặng chi phí tuân thủ pháp luật mà các doanh nghiệp phải gánh chịu lớn do quy định pháp luật phức tạp, đặt ra nhiều yêu cầu, điều kiện do mức phí và lệ phí không hợp lý thì sẽ tạo ra chi phí hành chính, chi phí đầu tư, phí và lệ phí cao; quy định pháp luật không rõ ràng, không khả thi sẽ tạo thêm chi phí cơ hội và chi phí không chính thức cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nếu việc tổ chức thi hành pháp luật không tốt sẽ làm gia tăng chi phí hành chính, chi phí không chính thức hoặc chi phí rủi ro pháp lý, làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này gây tốn kém cho doanh nghiệp, cản trở các doanh nghiệp đầu tư, hạn chế năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cản trở phát triển kinh tế - xã hội.

5. Chỉ số chi phí tuân thủ pháp luật của Việt Nam và các nước khác trong  ASEAN 2018

Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018 (The global Competitiveness Report 2018) được phát hành ngày 16/10/2018 của WEF, chỉ số B1 của Việt Nam được chấm đạt giá trị 3.1 trên thang điểm 1-7, tương ứng với điểm 34.6  (giảm) trên thang điểm 0-100, đứng thứ 96/140 nước – Đây là điểm số và thứ hạng thấp nhất trong khu vực ASEAN, theo đó, Việt Nam đứng thứ 9 trong tổng số 9 nước ASEAN được WEF khảo sát về chỉ số B1, cụ thể:

(1) Singapore: Chỉ số B1 đạt 5.6 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm 76.1 (giảm) trên thang điểm 0 -100, xếp thứ 1/140 nước và đứng vị trí thứ 1 trong các nước ASEAN.

(2) Malaysia: Chỉ số B1 đạt 5.0 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm 66.8 (tăng) trên thang điểm 0 -100, xếp thứ 5/140 nước và đứng vị trí thứ 2 trong các nước ASEAN.

(3) Indonesia: Chỉ số B1 đạt 4.1 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm 52.0 (tăng) trên thang điểm 0 -100, xếp thứ 26/140 nước và đứng vị trí thứ 3 trong các nước ASEAN.

(4) Lào: Chỉ số B1 đạt 3.8 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm  45.9 (giảm) trên thang điểm 0 -100, xếp thứ 47/140 nước và đứng vị trí thứ 4 trong các nước ASEAN.

(5) Thái Lan: Chỉ số B1 đạt 3.6 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm 43.3 (tăng) trên thang điểm 0 -100, xếp thứ 58/140 nước và đứng vị trí thứ 5 trong các nước ASEAN.

(6) Campuchia: Chỉ số B1 đạt 3.6 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm  42.5 (tăng) trên thang điểm 0-100, xếp thứ 61/140 nước và đứng vị trí thứ 6 trong các nước ASEAN.

(7) Brunay: Chỉ số B1 đạt 3.2 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm 37.1 (giảm) trên thang điểm 0-100, xếp thứ 85/140 nước và đứng vị trí thứ 7 trong các nước ASEAN.

(8) Philippin: Chỉ số B1 đạt 3.1 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm 35.1 (tăng) trên thang điểm 0-100, xếp thứ 91/140 nước và đứng vị trí thứ 8 trong các nước ASEAN.

(9) Việt Nam: Chỉ số B1 đạt 3.1 trên thang điểm 1-7, tương ứng với số điểm 34.6 (giảm), xếp thứ 96/140 nước và đứng vị trí thứ 9 trong các nước ASEAN.